Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình khai thác và vận chuyển gỗ ở nước ta và trên thế giới 1. Tình hình khai thác và vận chuyển gỗ ở các nước trên thế giới Ngành công nghiệp gỗ toàn cầu tăng trưởng mạnh: sự ưa chuộng các sản phẩm từ gỗ tại các quốc gia như Mỹ và EU đã giúp cho giá trị chế biến gỗ toàn cầu đã tăng từ 283 tỷ USD trong năm 2012 lên 373 tỷ USD vào năm 2016 với tốc độ tăng trưởng hàng năm (CAGR) là 7. Đây là một tốc độ tăng trưởng cao so với mức tăng trưởng chung của các nhóm ngành.
Tốc độ này được dự báo còn tăng mạnh hơn, 9,2% (CAGR), giai đoạn 2016-2020 lên 531 tỷ USD (2020). 3 nhóm sản phẩm chính của ngành chế biến gỗ gồm dăm gỗ, gỗ công nghiệp (ván nhân tạo) và đồ gỗ nội, ngoại thất. Nhóm gỗ công nghiệp (Ván nhân tạo) bao gồm các sản phẩm như ván ép và gỗ dán, ván dăm và ván sợi. Đây là nhóm sản phẩm có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất do khả năng khai thác gỗ tự nhiên ngày càng hạn chế.
Bên cạnh đó các sản phẩm gỗ nhân tạo cũng có được một số đặc tạo lợi thế như sự đa dạng bề mặt, chống mối, chống ẩm. Trong 15 năm qua, thương mại dăm gỗ toàn cầu đã tăng lên gần 75%, chủ yếu do sự mở rộng công suất bột giấy ở Trung Quốc. Hai thị trường nhập khẩu dăm gỗ lớn nhất thế giới là Trung Quốc và Nhật Bản, tiếp theo là Phần Lan, Thụy Điển và Thổ Nhĩ Kỳ. Để giảm bớt việc lao động bằng chân tay của con người mà vẫn đại được năng suất cao cùng với sự phát triển của tất cả các ngành khoa học kỹ thuật như :Tin học, cơ khí, y học, giao thông, sinh học.
thì trong sản suất lâm nghiệp các nhà khoa học đã nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học vào đó. Trong san xuất lâm nghiệp, một trong những khâu đòi hỏi việc lao động chân tay nhiều nhất đó là khâu khai thác, vận chuyển và chế biến lâm sản. Nhờ áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất lâm nghiệp các khâu này phần lớn đã được cơ giới hóa bằng máy móc. Cơ giới hóa là sự thay thế sức lao động của con người bằng máy móc để thực hiện nhanh chóng với năng suất hiệu quả cao những công 4 việc nặng nhọc.
Nhiều hệ thống máy móc tự động đã thay thế con người trong việc điều khiển các quá trình sản xuất phức tạp, tinh vi với năng suất cáo và chất lượng tốt. Gần đây đã xuất hiệc nhiều loại máy móc có thể đảm niệm một chức năng bộ óc con người. Những năm trước việc khai thác, vận chuyển và chế biến gỗ rừng trồng còn nhiều khó khăn, điều khiện lao động còn quá nặng nhọc, nguy hiểm, chi phí lao động cao, năng suất lao động còn thấp. Việc khai thác, vận chuyển và chế biến hầu như hoàn toàn được thực hiện bằng chân tay, trong khâu vận chuyển người ta sử dụng sức kéo của những con gia súc.
Tuy nhiên, với những sản phẩm lâm nghiệp có kích thước lớn lại rất nặng nề, đồng thời đường sá đi lại khó khăn, nhiều đèo dốc thì năng suất lao động là rất thấp. Vào những năm đầu thế kỉ 19 nhờ việc áp dụng máy móc vào việc khai thác, vận chuyển và chế biến sản phẩm lâm nghiệp như: các loại máy cắt, máy cưa, máy cẩu, tời, các loại liên hợp máy kéo, ô tô. thì năng suất và hiệu quả lao động được tăng lên gấp bội. Vì vậy việc áp dụng cơ giới hóa trong các khâu khai thác, vận chuyển, vận xuất và chế biến gỗ rừng trồng rất cần thiết.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, con người đã ngày càng tháy thế nhiều máy móc vào trong san xuất và cuộc sông hằng ngày giúp giảm sức lao động của con người. Máy móc sẽ thực hiện nhanh chóng, chính xác với năng suất và hiệu quả cao những công việc nặng nhọc. Trong vận chuyển, lúc đầu là sức người sau đó là các loại gia súc và đến bây giờ là các loại máy vận chuyển, trong đó có máy kéo. Đối với máy kéo nói chung, máy kéo lớn nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và được công bố.
Các công trình nghiên cứu này thường là xây dựng cơ sở ly thuyết động lực học hoặc dang mô hình tình toán. Các công trình này mang đến thành tựu to lớn cho linh vực ô tô- máy kéo làm cơ sở cho các cán bộ chuyên môn triển khai và áp dụng. Tuy nhiên đối với các loại máy kéo nhỏ thì lại ít được nghiên cứu, đặc biết là các công trình mang tính đặc thù lâm nghiệp thì càng hạn chế. Như vậy cùng với sự phát triển của các ngành khoa học thì trong sản xuất lâm nghiệp như các công đoạn nặng 5 nhọc đã được các nhà khoa học giúp đỡ bằng cách cơ giới hóa hay là đưa máy móc vào trong quá trình sản xuất.1 - Tỷ trọng 3 loại rừng được quản lý ở Việt Nam 1.
Tình hình khai thác và vận chuyển gỗ ở Việt Nam Việt Nam là nước có ngành lâm nghiệp năng động, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ. Đây là lĩnh vực rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn, vùng cao đồi núi trung du. Theo thống kê của Bộ NN&PTNN năm 2012, tổng kim ngạch chế biến gỗ của Việt Nam ước tính đạt 4,0 tỷ đô la Mỹ. Nhìn chung, công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ đạt tỷ lệ tăng trưởng bình quân 16%/năm trong giai đoạn 2007-2012.
Gần đây, Việt Nam đã trở thành nhà xuất khẩu ván dăm số một thế giới với tổng khối lượng lên đến 5,8 triệu tấn (trọng lượng khô) vào năm 2012, là quốc gia đứng thứ hai về xuất khẩu đồ gỗ ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ sáu thế giới về lĩnh vực này. Khoảng 55% sản phẩm gỗ của Việt Nam được xuất đi thị trường Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Úc. Ở Việt Nam theo quản lý rừng thống kê gồm có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất với diện tích như sau, []: - Rừng đặc dụng: có 2,0 triệu ha, được quản lý bởi các khu bảo tồn. - Rừng phòng hộ: có 4,6 triệu ha, được duy trì vì mục tiêu bảo vệ các khu vực đầu nguồn, bảo vệ đất và môi trường.
6 - Rừng sản xuất: có gần 6,8 triệu ha trong đó, 4,3 triệu ha là rừng tự nhiên sản xuất còn 2,4 triệu ha là rừng trồng sản xuất. Mục đích của các khu rừng sản xuất là cung cấp nguyên liệu để sản xuất gỗ và các sản phẩm bằng gỗ. Hình 1 thể hiện tỷ trọng 3 loại rừng được quản lý ở Việt Nam.2 - Thị trường xuất khẩu gỗ chính của Việt Nam trong năm 2012 Trong tổng số 6,8 triệu ha rừng sản xuất ở việt Nam, ước tính đến tháng 3 năm 2012, chỉ có 30.000 ha (0,4%) là rừng đã có chứng nhận quản lý rừng bền vững. Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam, diện tích rừng sản xuất đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ quản lý rừng bền vững phấn đấu đạt chỉ tiêu 30% tổng diện tích, tương đương 1,8 triệu ha.2) minh họa thị trường xuất khẩu gỗ chính của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2012, gồm Hoa Kỳ (38%), Trung Quốc (16%) và Nhật Bản (15%).
Xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ vào thị trường Hoa Kỳ chiếm vị trí thứ 3 trong số các ngành có kim ngạch xuất khẩu song phương lớn nhất giữa Việt Nam và Hoa Kỳ với giá trị lên đến 1,8 tỷ đô la Mỹ trong năm 2012, tăng 24,7% so với năm 2011. Việt Nam được kỳ vọng sẽ trở thành nước xuất khẩu gỗ và sản 7 phẩm từ gỗ lớn nhất trong số các quốc gia Đông Nam Á vào năm 2013 với kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 5,5 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm 2013. Chính vì vậy khâu vận chuyển gỗ hiện tại ở Việt nam ta là rất cần thiết cho sự phát triển chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới kinh tế. Sau nhiều năm đổi mới ngành lâm nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề khó khăn trong vận chuyển gỗ. Để giải quyết những khó khăn bức xúc đó, yêu cầu cấp bách đó là phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lâm nghiệp, làm biến đổi nhanh chóng nền sản xuất từ lao động thủ công sang cơ khí hóa, có hiệu quả, tăng năng xuất, giảm thời gian lao động và đưa nhanh sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Để cơ giới hóa sản xuất vận chuyển gỗ, trước hết cần tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, nhằm phá vỡ trạng thái trì trệ thúc đẩy sự dịch chuyển kinh tế công nghiệp và dịch vụ, tạo sự phát triển cho toàn xã hội. Việc đưa xe - máy vào sản xuất lâm nghiệp ở nước ta, hầu như chưa đáp ứng được nhu cầu, vì 70% khối lượng công việc được làm bằng thủ công chỉ có 30% khối lượng công việc là được cơ giới hóa.
Từ đó, dẫn đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp còn thấp. Có thể nói địa hình đường ở Việt Nam khá phức tạp, có độ dốc lớn. Hơn thế nữa, sản xuất lâm nghiệp thường tập trung ở vùng sâu, vùng xa nên khó khăn trong việc vận chuyển cơ giới hóa vào sản xuất. Các chính sách đầu tư của nhà nước cho ngành lâm nghiệp có, nhưng còn hạn chế nên các đơn vị lâm nghiệp và người dân gặp khó khăn trong việc mua xe, thiết bị để áp dụng vào sản xuất.
Các nghiên cứu cải tiến để tạo ra các thiết bị phù hợp với địa hình, điều kiện đường Việt nam còn rất ít, chưa được quan tâm đúng mức. Trong sản xuất lâm nghiệp, khâu vận chuyển gồm có hai công đoạn sau: Vận chuyển từ nơi khai thác đến các kho chứa, nhà máy hoặc các bãi tập kết và vận chuyển từ các kho chứa sản phẩm của nhà máy đến nơi tiêu thụ. Vậy việc vận chuyển các nguyên liệu gỗ và các sản phẩm từ gỗ đến nơi tiêu thụ cũng gặp nhiều khó khăn vì các tuyến đường dùng cho ôtô, vận chuyển gỗ và các lâm sản 8 khác nằm rải rác trên các khu vực khai thác rộng lớn hoặc các con đường quốc lộ hay tỉnh lộ. Với hình thức vận chuyển lâm sản tới nơi sản xuất hoặc tiêu thụ bằng đường bộ có ưu thế hơn vận chuyển bằng đường sắt và đường thủy.