CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG NGHỀ 1. Tổng quan đào tạo nghề 1. Thực chất, đặc điểm của đào tạo nghề Đào tạo nghề là trang bị cho người lao động có trình độ kỹ thuật, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết để họ trực tiếp tham gia vào quá trình lao động sản xuất. Chất lượng của đào tạo nghề chính là chất lượng của nguồn lao động qua đào tạo, đó là nguồn lao động có kỹ thuật đáp ứng nhu cầu xã hội, được thị trường lao động chấp nhận.
Đặc điểm của đào tạo nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội. Đào tạo nghề là hình thành nhân cách người lao động mới.
Thông qua quá trình đào tạo giúp người học có được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp nhất định để có thể làm việc theo nghề nghiệp đó sau khi ra trường; đồng thời giáo dục cho người học những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất. Đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất. Đây là đặc điểm cơ bản nhất. Trong quá trình dạy – học, người học muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn thấy quá trình sản xuất hay ít nhất thấy được mô hình của nó.
Muốn đào tạo nghề có kết quả phải có một số điều kiện cơ bản sau: Máy móc, thiết 3 bị, nguyên vật liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ngũ giáo viên dạy lý thuyết và thực hành vừa giỏi kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp vụ sư phạm. Ngoài ra phải tính đến việc sử dụng các thành tựu kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất theo khoa học. Thiếu những điều kiện này, đào tạo nghề không thể đạt hiệu quả cao. Đào tạo nghề là đào tạo thực hành sản xuất.
Nội dung giảng dạy bao gồm cả lý thuyết và thực hành, nhưng thời gian thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo và chiếm khoảng 2/3 thời gian đào tạo. Nội dung dạy lý thuyết và thực hành được phản ánh trong kế hoạch giảng dạy và chương trình môn học. Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, liên tục đổi mới công nghệ sản xuất. Đây là điểm khác biệt giữa đào tạo nghề với giáo dục phổ thông.
Chất lượng đào tạo nghề Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường. Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào. Trong giáo dục đào tạo chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường. Dưới đây là một số quan điểm khác nhau về chất lượng đào tạo.
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với chương trình đào tạo. Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể. Chất lượng đào tạo thường được hiểu là chất lượng của sản phẩm đào tạo. Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình theo các ngành nghề cụ thể: Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo đề ra nhằm thoả mãn yêu cầu của khách hàng.
4 Khách hàng của đào tạo trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta gồm: Nhà nước trung ương và địa phương, các doanh nghiệp, các công ty nội địa và nước ngoài, hộ gia đình, người học, v., do vậy, chất lượng đào tạo cần đáp ứng được nhu cầu của các loại khách hàng khác nhau trong những điều kiện phát triển kinh tế xã hội nhất định. Tại mỗi nhà trường đào tạo hàng năm đều có nhiệm vụ được uỷ thác của các cơ quan chủ quản quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường. Từ nhiệm vụ được uỷ thác này, nhà trường xác định các mục tiêu và chiến lược đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài”; đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt “chất lượng bên trong”. Theo tác giả Trần Khánh Đức sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo được thể hiện qua hình sau: Kết quả đào tạo phù hợp nhu cầu sử Nhu cầu xã hội dụng Đạt chất lượng ngoài Kết quả đào tạo Nhu cầu xã hội Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo Đạt chất lượng trong Hình 1.1: Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo Chất lượng đào tạo có tính tương đối: Khi đánh giá chất lượng đào tạo phải đối chiếu, so sánh với chuẩn chất lượng của nghề theo yêu cầu của sản xuất.
Chất lượng đào tạo có tính giai đoạn: Chất lượng đào tạo phải không ngừng được nâng cao để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong quá trình phát triển của sản xuất và phát triển của khoa học - công nghệ. 5 Chất lượng đào tạo có tính đa cấp: Phải đào tạo với một hệ chuẩn có nhiều cấp độ khác nhau: Chuẩn quốc tế, chuẩn quốc gia, chuẩn địa phương để đáp ứng được nhu cầu của nhiều loại khách hàng trong nền kinh tế nhiều thành phần. Với yêu cầu đáp ứng nguồn nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ giảng dạy… và còn phải tính đến mức độ phù hợp và tính thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí cụ thể của doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp… 1. Các yếu tố cấu thành đến chất lượng đào tạo nghề Chất lượng đào tạo liên quan chặt chẽ với hiệu quả đào tạo.
Nói đến hiệu quả đào tạo là nói đến các mục tiêu đã đạt được ở mức nào, sự đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cơ sở đào tạo và những chi phí như tiền của, sức lực, thời gian bỏ ra là ít nhất nhưng đem lại kết quả cao nhất. Lĩnh vực đào tạo được coi là một hoạt động dịch vụ vì vậy, không giống như chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ được đánh giá bởi cả quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả dịch vụ. Như vậy, có thể hiểu chất lượng dịch vụ là đáp ứng được sự hài lòng của khách hàng. Khách hàng của dịch vụ đào tạo có thể bao gồm ba đối tượng là học viên, doanh nghiệp và các bậc phụ huynh.
6 Để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì dịch vụ đào tạo phải đảm bảo tám yếu tố cơ bản được thể hiện: Mục tiêu, chương trình đào tạo Cơ sở vật chất và Quản lý các trang thiết bị tài chính phục vụ giảng dạy và học tập Mối quan hệ Trình độ, giữa nhà CHẤT kinh nghiệm LƯỢNG trường với ĐÀO TẠO giảng dạy của doanh nghiệp đội ngũ giáo viên Môi trường Chất lượng học tập, sinh đầu vào hoạt trong của học sinh nhà trường Công tác tổ chức, quản lý Hình 1.2: Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo (1) Mục tiêu, chương trình đào tạo Chương trình đào tạo vừa là chuẩn mực đào tạo, vừa là chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo. Điều kiện kiên quyết để đảm bảo chất lượng trong đào tạo ở các trường TCN và dạy nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chính là chương trình đào tạo của các trường TCN có phù hợp với nhu cầu thị trường lao động hay không. Người sử dụng lao động của học sinh sau khi ra trường chính là người xác định chất lượng giáo dục của nhà trường, người sử dụng lao động cũng là người quyết định, phán xét cuối cùng về chất lượng đào tạo của trường đó. Điều này đòi 7 hỏi các cơ sở đào tạo TCN phải coi chất lượng đào tạo là sự phù hợp ở kết quả sản phẩm đầu ra - lao động của học sinh, với những yêu cầu của người sử dụng lao động những học sinh đó.
(2) Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập: Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập là điều kiện tối thiểu, đầu tiên của quá trình đào tạo. Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ giảng dạy bao gồm: Hệ thống phòng học, thực hành, thư viện, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy như giáo trình, giáo án, hệ thống bảng chuyên dùng, đèn chiếu, máy chiếu đa năng, máy tính, mạng internet; các bảng biểu, mô hình, băng đĩa ghi hình. Đối với đào tạo bậc TCN thì nội dung thực hành là rất quan trọng, vì vậy hệ thống phòng thực hành với đầy đủ trang thiết bị phục vụ thực hành là điều kiện cần để đảm bảo tay nghề cho học sinh. (3) Trình độ, kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy của giáo viên: Dạy học là quá trình người thầy truyền đạt cho học sinh hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm phát triển năng lực trí tuệ và hình thành thế giới quan cho họ.
Đối tượng của quá trình dạy học là học sinh - con người với sự đa dạng về nhận thức, quan điểm, tình cảm làm cho quá trình dạy học trở thành hoạt động rất khó khăn và phức tạp.