Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm. Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ năm 2014 đến năm 2018. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm tại tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Luan van 8 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM 1. Khái niệm việc làm Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”.47] Ở Việt Nam, quan niệm việc làm được quy định trong Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2012. Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Khái niệm tư vấn Theo GS.TS Trần Ngọc Đường và TS Nguyễn Thành (NXB Tư pháp, 2007, trang 524-525) giải thích: “Tư vấn là hoạt động đáp ứng về kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn”.
Theo cuốn từ điển Hoàng Phê chúng ta hiểu định nghĩa về tư vấn như sau: “Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề được hỏi, nhưng không có quyền quyết định”. Khái niệm đào tạo nghề Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27/11/2014 quy định: “ Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Theo ILO: “ Những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu” [94, tr.
Khái niệm về chất lượng “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp NF X50 – 109). Luan van 9 “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất” (GS. Kaoru Ishikawa – Nhật). Khái niệm dịch vụ Theo Philip Kotler: Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988) định nghĩa Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Theo Lewis và Booms, 1983; Gronroon, 1984; Parasuraman và các cộng sự (1985, 1988, 1991), Chất lượng dịch vụ còn là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó. Ta có công thức so sánh như sau: S= P-E ( Satisfaction = Perception – Expectation) Trong đó: + S là chất lượng dịch vụ.
+ P là sự thảo mãn của khách hàng sau khi tiêu dùng dịch vụ. + E là sự mong đợi của khách hàng về chất lượng dịch vụ trước khi tiêu dùng Thông tin bằng lời Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm từ trước Chỉ tiêu đánh giá chất Dịch vụ trông đợi Chất lượng dịch vụ được lượng dịch vụ cảm nhận - Sự tin cậy 1. Chất lượng dịch vụ vượt - Tinh thần trách nhiệm quá trông đợi ( P>E) 2. Chất lượng dịch vụ thỏa mãn ( P=E) Dịch vụ cảm nhận Luan van 10 (Nguồn: Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988)) Sơ đồ 1.
Mô hình về chất lƣợng dịch vụ Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988) 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm Theo Đỗ Huy Hoan (2013), “Nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm tại các trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Bắc Giang”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã đưa ra 2 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm là nhân tố khách quan và chủ quan. * Nhân tố khách quan ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm: - Thị trường lao động. - Hệ thống chính sách quản lý và điều tiết hoạt động của thị trường lao động.
- Các tổ chức tham gia giới thiệu việc làm. * Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm: - Đội ngũ cán bộ và năng lực phẩm chất của đội ngũ cán bộ trong các trung tâm giới thiệu việc làm. - Bản thân người tìm việc làm. - Cơ sở vật chất kỹ thuật của các trung tâm giới thiệu việc làm.
- Quản lý chất lượng dịch vụ giới thiệu việc làm. - Sự phối hợp giữa các ban, ngành, tổ chức đoàn thể. Các mô hình chất lƣợng dịch vụ 1. Mô hình 5 khoảng cách chất lƣợng dịch vụ của Parasuraman Trong mô hình Servqual, biện pháp này được thể hiện ở những nỗ lực để xóa bỏ hoặc thu hẹp các khoảng cách 1,2,3 và 4.
Điều đó sẽ giúp các doanh nghiệp giảm bớt khoảng cách thứ 5 (Gap 5). Vậy bốn khoảng cách đó là: Luan van 11 – Khoảng cách 1 (Gap 1) là khoảng cách giữa sự mong đợi thật sự của khách hàng và sự nhận thức của nhà quản lý dịch vụ du lịch về điều đó. Nếu khoảng cách này lớn tức là nhà quản lý du lịch chưa nắm rõ được khách hàng mong đợi gì. – Khoảng cách 2 (Gap 2) là khoảng cách giữa sự nhận thức của nhà quản lý dịch vụ về những gì khách hàng mong chờ với việc chuyển đổi các nhận thức đó thành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ của mình.
– Khoảng cách 4 (Gap 4) là khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ được cung cấp với những thông tin, quảng cáo hay lời hứa mà một dịch vụ du lịch đem đến cho khách hàng , nó thể hiện nhà quản lý dịch vụ đó có thực hiện lời hứa về dịch vụ với họ hay không. Parasuraman và các nhà nghiên cứu cho rằng tại thời điểm mà khoảng cách 5 bằng 0 thì chất lượng dịch vụ là hoàn hảo. Luan van 12 Thông tin Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm truyền miệng của khách hàng quá khứ Dịch vụ mong đợi ( Chất lượng dịch vụ du lịch được khách hàng mong đợi) Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận ( Dịch vụ du lịch thực tế Khách mà khách hàng cảm nhận) hàng Khoảng cách 1 Thông tin Cung Cung cấp dịch vụ ( Chất lượng dịch vụ du lịch cấp đến khách thực tế được cung cấp cho khách hàng) dịch vụ Khoảng hàng Khoảng cách 3 cách 4 Chuyển đổi nhận thức của người quản lý thành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ Khoảng cách 2 Nhận thức của người quản lý về mong đợi của khách hàng Sơ đồ 1. Mô hình khoảng cách chất lƣợng (Nguồn: Parasuraman và cộng sự ( 1985)) 1.
Mô hình SERVQUAL (Parasuraman (1988)) Là một công vụ được phát triển chủ yếu dựa vào đo lường chất lượng dịch vụ trong Maketing đã đưa ra một nội dung tổng thể về chất lượng dịch vụ. Parasuraman & ctg (1985) cho rằng bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng của dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng bởi 10 thành phần, đó là: Tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, tiếp cận, lịch sự, thông tin, tín nhiệm, an toàn, hiểu biết khách hàng và phương tiện hữu hình. Luan van 13 Các nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định mô hình này đi đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản đó là: – Tin cậy (reliability) thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. – Đáp ứng (responsiveness) thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
– Năng lực phục vụ (assurance) thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng. – Đồng cảm (empathy) thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng. – Phƣơng tiện hữu hình (tangibles) thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Mô hình đánh giá chất lƣợng kỹ thuật/chức năng của Gronroos (1984) Để đo lường chất lượng dịch vụ, Gronroos đưa ra ba tiêu chí: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh.
Kỳ vọng về Chất lượng dịch Dịch vụ nhận dịch vụ vụ cảm nhận được Các hoạt động marketing truyền thống ( quảng cáo, PR, xúc tiến bán) và các yếu tố bên ngoài như truyền thống, Hình ảnh tư tưởng và truyền miệng) Chất lượng kỹ thuật Chất lượng chức năng Cái gì? Thế nào? Luan van 14 Sơ đồ 1. Mô hình chất lƣợng kỹ thuật/ chức năng (Nguồn: Gronroos (1984)) ( 1) Chất lượng kỹ thuật mô tả dịch vụ được cung cấp là gì và chất lượng mà khách hàng nhận được từ dịch vụ. ( 2) Chất lượng chức năng mô tả dịch vụ được cung cấp thế nào hay làm thế nào khách hàng nhận được kết quả chất lượng kỹ thuật. (3) Hình ảnh là chủ yếu rất quan trọng, được xây dựng chủ yếu dựa trên chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng của dịch vụ, ngoài ra còn một số yếu tố khác như truyền thống, truyền miệng, chính sách giá, PR.
Mô hình tổng hợp chất lượng dịch vụ của Brogowicz và cộng sự (1990) Khoảng cách chất lượng dịch vụ có thể tồn tại ngay cả khi khách hàng chưa hề sử dụng dịch vụ nhưng được nghe người khác nói về dịch vụ đó, hoặc nghe qua quảng cáo hay các phương tiện truyền thông khác. Mục đích của mô hình này là xác định các khía cạnh liên quan đến chất lượng dịch vụ trong khung quản lý truyền thống về lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát. Mô hình xem xét 3 yếu tố: Hình ảnh công ty, các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài và các hoạt động marketing truyền thống như các các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng kỹ thuật và chức năng kỳ vọng của sản phẩm.