MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nâng cao mức song và chất lượng cuộc sống dân cư (CLCSDC) đã được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm và đây cũng là một trong những vấn đề được thể hiện trong Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG-MIIlennium Development Goals) ở Việt Nam do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đề xuất. Trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển KT — XH với thời gian 10 năm (2001 - 2010), nhiều cơ chế, chính sách dé huy động tối đa các nguồn lực từ trong nước và đồng thời chú trọng thu hút nguồn vốn từ bên ngoài dé tăng cường khả năng phát triển KT - XH của Chính phủ Việt Nam, đã tạo ra những khả năng to lớn để thực hiện đạt được các MDG với những thành tựu quan trọng. Việt Nam được thế giới đánh giá là nước thành công trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo và kết quả đã đưa nước ta từ nước có thu nhập thấp (kém phát triển) trở thành nước có thu nhập trung bình thấp (nước đang phát triển).
Tuy vào vi trí địa lí, điều kiện tự nhiên và KT — XH, mức độ tiếp cận với các nhu cầu dịch vụ ở mỗi địa phương khác nhau nên mức sông và CLCSDC cũng khác nhau. Trà Vinh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, so với các tỉnh và Tp (sau đây gọi là tỉnh) trong vùng thì tỉnh vẫn còn khó khăn với chỉ số thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2014, theo giá hiện hành phân theo năm nhóm thu nhập và phân theo địa phương thì tỉnh Trà Vinh xếp thứ 11 trong 13 tỉnh của vùng. Mặc dù, Trung ương và tỉnh đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác xóa đói giảm nghèo. Qua các năm, tỉ lệ hộ nghèo tuy có giảm nhưng vẫn còn cao so với các tỉnh khác trong vùng, xếp thứ 2 sau tỉnh Sóc Trăng.
Khi KT — XH càng phát triển thì sự chênh lệch về thu nhập, chi tiêu hay các chi số về CLCSDC càng lớn, đặc biệt là các địa bàn huyện/xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biên và vùng có đông đồng bao dan tộc thiêu số. Trà Cú là một trong 8 huyện/Tp của tinh Trà Vinh - huyện có đông đồng bào dân tộc Khmer nhất trong tỉnh. Tỉ lệ đồng bào dân tộc Khmer chiếm 61,8% trong tổng dân số của huyện. Hiện nay, KT — XH của huyện còn gặp nhiều khó khăn nên khả năng đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật của dân cư còn hạn chế, kinh tế chậm phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của huyện.
Vậy, thực trạng CLCSDC của huyện Trà Cú hiện nay như thế nào? Những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển KT — XH cũng như cải thiện CLCSDC của huyện là gì? Trong tương lai cần có những giải pháp nào dé nâng cao CLCSDC phù hợp với đặc điểm tự nhiên và KT — XH của huyện. Đây là những vấn đề mà Đảng và Nhà nước rất quan tâm và cũng là sự quan tâm của bản thân tác giả. Tác giả mong muốn đóng góp một phần vào xây dựng quê hương của mình ngày càng giàu mạnh, bắt kịp với bước tiến của xu thế hội nhập quốc tế. Với những lí do trên, tác giả đã chọn nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống dân cu huyện Trà Cú (tinh Trà Vinh): Thực trạng và giải pháp”.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích Tổng quan về cơ sở lí luận và thực tiễn dé vận dụng nghiên cứu CLCSDC huyện Trà Cú (tỉnh Trà Vinh). Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao CLCSDC của huyện trong thời gian tới. Nhiệm vụ - Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về CLCSDC dé vận dụng vào nghiên cứu ở địa bàn huyện Trà Cú.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến CLCSDC huyện Trà Cú. - Phân tích thực trạng CLCSDC huyện Trà Cú. - Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện cải thiện CLCSDC của huyện. - Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao CLCSDC của huyện Tra Cú trong tương lai.
Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Tác giả nghiên cứu thực trạng CLCSDC huyện Trà Cú dưới góc độ địa lí và lựa chọn một số tiêu chí chính đề đánh giá CLCSDC nhưng vẫn thể hiện đầy đủ các khía cạnh của vấn đề đó là: thu nhập bình quân đầu người, y tế và chăm sóc sức khỏe, giáo dục va các chỉ tiêu phản anh điều kiện sống của dân cư như nhà ở, điện, nước hợp vệ sinh. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLCS cho dân cư của huyện. - Về không gian: Nghiên cứu các nhóm chỉ tiêu về CLCSDC trên địa bàn huyện Trà Cú, có sự phân hóa đến cấp xã xét trong mối quan hệ với tỉnh và các huyện khác trong tỉnh Trà Vĩnh. - Về thời gian: Những vấn đề liên quan đến CLCS của dân cư là những vấn đề phức tạp và luôn thay đổi theo thời gian.
Do giới hạn về thời gian, số liệu và điều kiện nghiên cứu nên luận văn chỉ nghiên cứu ở địa ban của huyện Tra Cu (tỉnh Trà Vinh) trong thời gian từ năm 2005 - 2014. Lịch sử nghiên cứu Con người đóng vai trò rat quan trọng trong sự phát trién KT — XH của tất cả các quốc gia trên thé giới, ở một vùng, nhất là các đơn vị hành chính cơ sở. Vì vậy, trong giai đoạn lịch sử nào con người cũng quan tâm đến mức sống và CLCS của họ. Vì thế, trên thé giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến van đề này.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới Theo R.Sharma (1990), tác giả của cuốn sách nồi tiếng "Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống", cho rằng CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội. Dù sự thỏa mãn, niềm hạnh phúc hay sự hài lòng là những nhân tố trung tâm trong định nghĩa này nhưng chúng ta không nên xem chúng như là một sự khang định mang tính chất nhất thời về niềm hạnh phúc hay sự hài lòng, mà ta nên xem chúng là kết quả sau cùng trong sự cảm giác của niềm hạnh phúc. Có thé ta có cách giải tốt hơn, thì nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống". Định nghĩa này về CLCS của Ông đã được chấp nhận rộng rãi.
Theo đó, mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng dé tạo ra CLCS [19]. Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hon, Ông gan quan niệm CLCS với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái. Theo Ông, CLCS được đặc trưng bởi 12 điểm: "(1) An toàn thê chất cá nhân; (2) Sung túc về kinh tế; (3) Công băng trong khuôn khổ pháp luật; (4) An ninh quốc gia; (5) Bảo hiểm lúc già yêu và đau ốm; (6) Hạnh phúc tinh thần; (7) Sự tham gia vào đời sống xã hội; (8) Bình đắng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi; (9) Chất lượng đời sống văn hóa; (10) Quyền tự do công dan; (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bi sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế); (12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm". Trong đó, Ông đã nhắn mạnh nội dung "An toàn" và đã khang định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn của môi trường (nhân tạo) trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh.
Tuy nhiên, vai trò của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội còn chưa được rõ nét [19]. Dé định lượng khái niệm CLCS, Thái Lan xây dựng hệ thống chỉ tiêu dựa vào các nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm. Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các nhóm nhu cầu cơ ban của CLCS dé đưa ra những biện pháp thực hiện gắn liền với địa ban dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cầu hạ tầng xã hội của Nhà nước. Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sông theo 3 mức yếu kém (một sao), trung bình (hai sao), khá (ba sao).
Trong 9 chuẩn mực sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo vệ môi trường. Các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ bản cần thiết, các chỉ tiêu đánh giá CLCS rất phù hợp với đặc điểm của một quốc gia đang phát triển và những vấn đề xã hội như kế hoạch hóa gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá tri tinh thần được coi như là một chuẩn mực quan trọng của CLCS [19]. Năm 1990, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) dựa trên những tiêu chí cơ bản như thu nhập, y tế và giáo dục — ba mặt cơ bản phản ánh CLCSDC. Chỉ số này cho thấy đây là cách tiếp cận mới, có tính hệ thống hon, coi phát trién con người là sự mở rộng phạm vi lựa chon để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Đề đánh giá sự tác động của dân số với các van đề phát triển KT — XH, có công trình nghiên cứu của GS. Tống Văn Đường (2001) “Dan số và phát triển”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội đã đề cập đến mối quan hệ giữa dân số và phát triển, trong đó ở chương VI, ông đã phân tích dân số và các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, mức sông. Đặc biệt, ông đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức sống dân cư thành 4 nhóm: nhóm 1 là những chỉ tiêu phản ánh đặc điểm và điều kiện lao động; nhóm 2 là những chỉ tiêu phản ánh mức tiêu dùng của cải vật chất trong xã hội; nhóm 3 là những chỉ tiêu phản ánh điều kiện sinh hoạt văn hóa, tinh thần và đảm bảo sức khỏe và nhóm 4 là những chỉ tiêu phản ánh kết quả tác động giữa các yếu tố quy định của pháp luật, tuổi thọ trung bình, HDI.