Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Cơ sở lý thuyết đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chống thất thoát nước tại Công ty Cổ phần Cấp nước Trung An - Chương 3: Đề xuất giải pháp chống thất thoát nước tại khu vực nghiên cứu điển hình thuộc Công ty Cổ phần Cấp nước Trung An. Tổng quan về thất thoát nước trên thế giới và Việt Nam Thất thoát nước là lượng nước tổn thất trong quá trình vận chuyển và phân phối nước sạch (từ trạm bơm cấp II đến hộ dùng nước) được xác định bởi sự chênh lệch giữa lượng nước sạch vào mạng lưới cấp nước với lượng nước tiêu thụ thực tế ghi nhận được và các lượng nước khác (như xúc xả đường ống, khử trùng, thử áp, chữa cháy. Bao gồm hai thành phần chính là thất thoát và thất thu. Tình hình thất thoát trên hệ thống cấp nước trên thế giới Trên thế giới, các thành phố đang mở rộng nhanh chóng.
Vào năm 2030, dự kiến 60% dân sẽ sống trong môi trường đô thị và nhu cầu về nước sạch và an toàn tăng lên. [3] Và cho dù thực tế là nhu cầu đang tăng lên, chúng ta vẫn đang tiếp tục làm lãng phí các nguồn tài nguyên nước hiện có, hơn 1/3 lượng nước sạch được cung cấp bị thất thoát và và rò rỉ bởi hệ thống cung cấp nước sạch đô thị trước khi đến với đối tượng sử dụng nước. Hầu hết các thành phố ở các nước công nghiệp, hạ tầng cấp nước đã được xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Cơ sở hạ tầng đang xuống cấp nhanh chóng nhưng việc thay thế, đổi mới đường ống cung cấp cho hộ gia đình và các khu công nghiệp không được đầu tư thích đáng.
Lượng nước thất thoát thế giới được thống kê là 346 triệu m3/ngày hay 126 tỷ m3/năm. Nói một cách nào đó, lưu lượng hàng năm này bằng khoảng 70% lưu lượng trung bình của sông Niger (con sông chính ở Tây Phi) và gần 50% lưu lượng trung bình của sông Hằng ở Ấn Độ. Nhưng quan trọng hơn, lượng thất thoát tổng hợp là 30% sản lượng đầu vào của hệ thống nước trên toàn thế giới. [11] Chỉ số thất thoát nước mới được giới thiệu l/người/ngày được tính toán theo quốc gia và khu vực để hiểu mức độ thất thoát, không phụ thuộc vào quy mô quốc gia hoặc khu vực.
Việc đưa ra chỉ số này là cần thiết vì không thể sử dụng các chỉ số thất thoát nước khi vận hành bình thường, như lượng thất thoát trên mỗi mối nối hoặc mỗi km đường ống mỗi ngày vì không thể sử dụng dữ liệu về chiều dài mạng lưới hoặc số lượng mối nối trong các trường hợp cấp quốc gia. 5 Trung bình Chi phí/Giá trị NRW Khu vực NRW NRW triệu m3/ngày tỷ m3/năm l/người/ngày triệuUSD/năm Châu Phi cận 14.4 Sahara Úc và New 1.1 Zealand Caucasus và 8.4 Châu Mỹ Latinh 69.0 và Caribe Trung Đông và 41.8 Bắc Phi Các đảo Thái 0.1 Bình Dương Nga, Ukraine, 9.0 Hoa Kỳ và 40.7 Canada 6 Trung bình Chi phí/Giá trị NRW Khu vực NRW NRW triệu m3/ngày tỷ m3/năm l/người/ngày triệuUSD/năm Tổng 346 126 77 39 Bảng 1.1 Thống kê NRW và chi phí/giá trị cho mỗi khu vực [11] NRW (l/người/ngày) 250 211 200 152 150 121 119 96 93 100 81 65 42 50 50 36 0 Hình 1.1 Biểu đồ thống kê NRW trên thế giới [11] Từ bảng thống kê trên, không có gì ngạc nhiên khi sự khác biệt giữa các khu vực là đáng kể. Mức thất thoát thấp nhất (36 l/người/ngày) có thể tìm thấy ở Úc, đó là do những nỗ lực chống thất thoát nước được thực hiện trong 10 đến 15 năm qua. Các đảo ở Thái Bình Dương có mức thất thoát cao cao nhất (211 l/người/ngày) nhưng số liệu thu thập còn hạn chế do đó con số này đáng nghi ngờ.
Mức thất thoát trung bình ở Mỹ Latin và Caribe là 121 l/người/ngày. [11] Những sự kiện và các chỉ số về sự thiệt hại nước ở các đô thị trên toàn cầu: - Lượng nước tiêu thụ yêu cầu tăng lên 40% đến năm 2025 so với năm 2010.4 tỉ người không được tiếp cận với nguồn nước sạch và an toàn. - Đến năm 2025, một phần ba dân số thế giới bị tác động bởi sự thiếu nước. 7 - Hơn 1/3 lượng nước uống cung cấp trên thế giới bị mất từ hệ thống phân phối của thành phố trước khi đến được tay người tiêu dùng.
- Mỗi năm, có hơn 32 triệu m3 nước thất thoát cơ học được xử lý từ HTCN đô thị - Nếu chúng ta giảm được ½ chỉ số NRW, khi đó sẽ có trên 130 triệu người được cung cấp nước sạch. Một số nước trên thế giới Tỷ lệ TTN (%) Mỹ 20 Singapore 4 Thái Lan 30 Vientiane ( Lào ) 21 Kualelumpur( Malaysia) 34 Campuchia 7 Canada 15 Ấn độ 41 Pháp 15 Hà Lan 5 Bảng 1.2 Tỷ lệ TTN giữa các nước trên thế giới (tháng 7/2018) [11] Từ những nước có tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch chỉ từ 4% đến 7% như Singapore, Hà Lan, Campuchia. Tại các nước nảy, tỉ lệ thất thu gần như bằng 0, chỉ còn tỷ lệ thất thoát do kỹ thuật. Nhiều nước có những nỗ lực vượt bậc trong công tác chống thất thoát, thất thu nước sạch như Canada, Pháp.
Ở nước Campuchia , từ tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch vào (tháng 7/2011) là 26,24% sau 7 năm đã hạ tỉ lệ này xuống chỉ còn 7%. [11] Một số kinh nghiệm, giải pháp chống thất thoát, thất thu nước sạch trên thế giới là: - Xây dựng bảng cân bằng lượng nước đưa vào mạng - Phân vùng, tách mạng hợp lý để quản lý - Vận hành trạm bơm phù hợp với chế độ dùng nước trên mạng lưới 8 - Điều chỉnh và kiểm soát được áp lực, lưu lượng nước - Thay thế ngay các đường ống cũ đã xuống cấp - Không ngừng nâng cấp các thiết bị dò tìm các điểm rò rỉ - Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý mạng lưới - Thường xuyên đào tạo nhân viên quản lý để nâng cao ý thức và kỹ năng tay nghề. Tình hình thất thoát trên hệ thống cấp nước tại Việt Nam 1. Thực trạng thất thoát nước ở Việt Nam Tính đến cuối năm 2020, Việt Nam có 862 đô thị, tỉ lệ đô thị hóa đạt khoảng 40%.
Tổng công suất thiết kế nhà máy cấp nước là 6376737 m3/ ngày đêm. Toàn quốc có 94 công ty cấp nước, tỷ lệ dân được cung cấp nước sạch trung bình cả nước là 84,60%. Trung bình tỉ lệ thất thoát thất thu là 18,41%. Tổng chiều dài đường ống nước 2761863.
[4] Kết quả hoạt động nhiệm kì V (2015-2020) về cấp nước: - Khu vực đô thị: Tổng công suất cung cấp nước sạch đạt 10,6 -10,9 triệu m3/ ngày đêm, tăng 4 triệu m3/ so với năm 2015, Tỷ lệ cung cấp nước sạch tập trung khu vực đô thị đạt 89%, tăng 8% so với năm 2015. Tỷ lệ thất thoát thất thu giảm còn 19%, giảm 5,5% so với năm 2015. - Khu vực nông thôn: Tỷ lệ người dân sử dụng nước hợp vệ sinh: 88,5 % so với năm 2015 tăng 3,5%. Có 4 vùng đạt > 90% đó là Đồng bằng sông Hồng, Nam Trung Bộ , Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long, Cấp nước tập trung có 16.573 công trình trong đó có 33,12% công trình hoạt động bền vững, 31,6% công trình hoạt động kém hiệu quả và không hoạt động.
[4] Các công ty cấp nước trong nước: Tỷ lệ TTN (%) (2018) Công ty Cổ phần Cấp nước Hải Phòng 13 Công ty Cổ phần Cấp nước Đà Nẵng 14 Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV 23 Công ty TNHH MTV Cấp nước Đồng Nai 21 Công ty TNHH MTV Cấp nước Vĩnh Long 22 9 Các công ty cấp nước trong nước: Tỷ lệ TTN (%) (2018) Công ty TNHH MTV Cấp nước Sóc Trăng 15 Công ty Cổ phần Cấp nước Bến Tre 24 Công ty Cổ phần Cấp nước Bà Rịa – Vũng Tàu 8 Bảng 1.3 Tỷ lệ TTN giữa các công ty cấp nước trong nước [4] Hình 1.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ thất thoát nước [4] Tỉ lệ TTN TP.HCM vào năm 2009 là 40,53% sau 9 năm đã hạ tỉ lệ này xuống chỉ còn 23%. Một số nguyên nhân chính gây ra thất thoát, thất thu nước sạch tại Việt Nam - Qua việc nghiên cứu, cũng như tại các hội thảo về nâng cao năng lực, chia sẻ kinh nghiệm chống thất thoát, thất thu nước sạch tại Việt Nam, các nguyên nhân gây thất thoát, thất thu nước sạch chính bao gồm: - Trong bước lập quy hoạch, việc tính mục tiêu cho một thời gian dài cũng như sự phát triển của đô thị không như dự báo của quy hoạch dẫn tới dư thừa công suất của hệ thống so với thực tế, gây dư lưu lượng và áp lực cao trong mạng lưới đường ống cấp nước. - Trong bước lập dự án đầu tư xây dựng công trình, thiết kế kỹ thuật, một loạt các yếu tố sau đây trong quá trình tính toán kỹ thuật cũng có ảnh hưởng đến thất thoát nước như: Tính toán sai thủy lực, Lựa chọn thông số thiết kế sai (các hệ số Kmax, Kmin, thời gian hoạt động của hệ thống, áp lực dư tối đa, tối thiểu v.v), Áp dụng chế 10 độ quá an toàn hoặc tiêu chuẩn phục vụ cao (áp lực thiết kế lớn để đưa nước lên các nhà cao tầng), Lựa chọn sai chế độ vận hành (kể cả có SCADA hoặc bơm biến tần). Lựa chọn sai các thiết bị, vật tư và phụ kiện trên mạng.
Lựa chọn ống sai kích cỡ (nhầm lẫn khi phân biệt đường kính danh nghĩa, đường kính trong và đường kính ngoài của ống). Lựa chọn quá nhiều loại vật liệu ống và phụ tùng hoặc một loại vật liệu nhưng có xuất xứ hoặc tiêu chuẩn khác nhau. Lựa chọn vật liệu địa phương không đạt chất lượng. Lựa chọn loại ống có nhiều mối nối.
Lựa chọn loại vật liệu dễ bị ăn mòn hoặc lão hóa. Lựa chọn vật liệu lấp, phủ ống sai quy cách. - Công tác khảo sát địa hình không đúng dẫn đến lựa chọn sai phương án cấp nước (tự chảy hay máy bơm, công suất và cột áp của máy bơm, phương án cấp nước phân vùng hay cấp nước tổng thể) bất kỳ phương án kỹ thuật nào không đúng cũng sẽ gây ra thất thoát (vì không tối ưu về thủy lực). Công tác khảo sát địa hình không chính xác còn dẫn đến đặt sai vị trí các công trình trên mạng như bơm tăng áp, van xả khí, xả kiệt dẫn đến số lượng công trình và phụ kiện của mạng tăng, thất thoát lớn hơn.