Chương I, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Khách du lịch Khách du lịch là một khách thăm trú tại một quốc gia (địa phương) trên 24 tiếng và nghỉ qua đêm tại đó với cá lý do khác như kinh doanh, hội nghị, thăm than, nghỉ dưỡng, nghỉ lễ, giải trí, nghỉ mát… Liên hợp quốc định nghĩa khách du lịch là người sống xa nhà trên một đêm và dưới một năm vì chuyện làm ăn, hay để giải trí loại trừ nhân viên ngoại giao, quân nhân và sinh viên du học. Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (điều 4) quy định: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Như vậy, có thể có những quan điểm khác nhau về du khách”.
Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế: - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam - Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài vào Việt Nam du lịch, côngdân Việt Nam, người nước ngoài thường cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lữ hành và kinh doanh lữ hành 1. Lữ hành Theo nghĩa rộng: Lữ hành là sự di chuyển của con người từ địa điểm này đến địa điểm khác với những mục đích đa dạng và bằng các phương tiện khác nhau, cũng như những hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó. Theo nghĩa hẹp: Trong kinh doanh du lịch lữ hành được hiểu là sự di chuyển của con người nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch theo một chương trình nhất định và các hoạt động tổ chức chƣơng trình du lịch đó.
Theo Luật Du lịch năm 2005 của Việt Nam: Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch 1. Kinh doanh lữ hành Theo thông tư hướng dẫn thực hiện nghị định 27/2001/NĐ-CP của chính phủ về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch: “Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng bán và tổ chức thực hiện các chưuơng trình du lịch nhăm mục đích sinh lợi”. Doanh nghiệp lữ hành Theo Luật Du lịch năm 2005 doanh nghiệp lữ hành được định nghĩa như sau: DNLH là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các CTDL cho khách du lịch. Ngoài ra, DNLH còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán các sản phẩm của nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục vụ các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng.
Nội dung hoạt động marketing thu hút khách du lịch của doanh nghiệp du lịch 1. Quá trình quyết định mua của khách du lịch Quá trình quyết định mua của khách du lịch gồm các bước sau: Nhận biết nhu cầu: Nhu cầu nảy sinh khi người mua cảm thấy có sự khác biệt về tình trạng thực tế và mong muốn. Nhu cầu có thể bắt nguồn từ những tác nhân kích thích nội tại như đói, khát, mệt mỏi…,ở ngưỡng cao thì trở thành thôi thúc hay tác nhân kích thích bên ngoài. Cần gợi nên nhu cầu cho khách hàng.
Tìm kiếm thông tin: Khi khách hàng có nhu cầu sẽ tìm kiếm thông tin, nguồn thông tin mà khách hàng tìm đến sẽ ảnh hưởng đến quyết định mua. Có 4 nhóm thông tin là thông tin thương mại, thông tin phi thương mại. thông tin xã hội và thông tin nội bộ. Thông tin thương mại khách hàng nhận được nhiều nhất, nhưng những thông tin do quan hệ xã hội lại hiệu quả nhất mang tính chất khẳng định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Đánh giá khả năng lựa chọn: Sau khi tìm được thông tin họ sẽ đánh giá các lựa chọn để tìm ra lựa chọn tốt nhất. Mỗi khách hang khác nhau sẽ có cách nhìn nhận khác nhau về tính chất dịch vụ. Tiêu chuẩn mà họ đưa ra có thể là chủ quan hay khách quan. Họ đánh giá cao cái mà họ đang tim kiếm.
Thực hiện hành vi mua : Sau khi đánh giá người mua hang có ý định mua cho những sản phẩm có thứ hạng cao nhất. Nhưng việc thực hiện có thể bị trì hoãn bởi 2 yếu tố là thái độ của những người khác và những yếu tố tình huống bất ngờ. Ngoài ra khi quyết định mua hàng người mua còn phải thông qua quyết định như mua của ai, số lượng bao nhiêu, phương pháp thanh toán, làm sao đến được nơi nghỉ và làm gì ở đó. Cần năm bắt được những yếu tố gây ra cảm giác rủi ro ở người mua để cung cấp thông tin củng cố lòng tin cho khách hàng.
Đánh giá sau khi mua: Sau khi mua người mua có thể hài lòng hoặc không hài lòng. Nó sẽ ảnh hưởng đến hành vi mua tiếp theo của người tiêu dùng. Mua thường là sự nuối tiếc sản phẩm du lịch do đặc thù của nó nên càng làm gia tăng sự nuối tiếc khi mua. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu Phân đoạn thị trường: Các nhóm khách hàng trong một thị trường lớn có chung các đặc điểm được gọi là phân khúc thị trường.
Các phương pháp phân đoạn thị trường: Các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, du lịch có thể lựa chọn một trong ba phương pháp phân đoạn sau: + Phân đoạn một lần: chọn một trong các tiêu thức phân đoạn căn bản để phân đoạn thị trường. + Phân đoạn hai lần: sau khi đã phân đoạn theo một tiêu thức căn bản, tiếp tục chia nhỏ thị trường theo tiêu thức phân đoạn thứ hai. Đây là phương pháp hay được sử dụng nhất trong kinh doanh khách sạn, du lịch.các doanh nghiệp khách sạn, du lịch thường dùng tiêu thức phân theo mục đích chuyến sau đó dùng tiêu thức địa lý để xác định chính xác những thị trường mục tiêu rõ nét hơn. + Phân đoạn nhiều lần: chọn một tiêu thức phân đoạn căn bản sau đó dùng hai hay nhiều hơn các tiêu thức khác để tiếp tục phân đoạn thị trường.
Lựa chọn thị trường mục tiêu: Việc phân đoạn thị trường bằng các tiêu thức phân đoạn khác nhau cho phép các doanh nghiệp có thể đánh giá từng đoạn thị trường và quyết định xem mình sẽ xâm nhập vào những phân đoạn thị trường nào có lợi nhất. Các phương án lựa chọn thị trường mục tiêu: + Tập trung vào một đoạn thị trường. Nhờ hiểu biết rõ hơn về một đoạn thị trường, khách sạn có khả năng có vị trí vững chắc trong đoạn thị trường này nhờ tiết kiệm được chi phí do chuyên môn hóa sản xuất, phân phối, khuyến mại. Nếu đạ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vị trí dẫn đầu thì đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư cao.
Phương án này phù hợp với các khách sạn nhỏe. Tuy nhiên cũng có rủi ro cao do khả năng thị trường đó giảm nhu cầu. + Chuyên môn hóa có chọn lọc. Doanh nghiệp chọn một số đoạn thị trường phù hợp với mục tiêu và tiềm lực của doanh nghiệp, mỗi đoạn đều có khả năng sinh lợi.
Phương án này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro. + Chuyên môn hóa sản phẩm: doanh nghiệp cung cấp một dịch vụ cho một số đoạn thị trường. Doanh nghiệp có thể gây dựng được uy tín cho sản phẩm song cũng trở nên rủi ro nếu xuất hiện sản phẩm thay thế. + Chuyên môn hóa thị trường: doanh nghiệp tập chung vào phục vụ nhiều nhu cầu của một nhóm khách hàng cụ thể.
Doanh nghiệp cũng có thể tạo dựng được uy tín cho các dịch vụ của mình cung ứng cho khách. Tuy nhiên sẽ trở nên rủi ro khi thị trường đó giảm nhu cầu + Phục vụ toàn bộ thị trường. Các chính sách marketing thu hút khách du lịch của doanh nghiệp du lịch 1. Chính sách sản phẩm Chính sách sản phẩm là các quy tắc chỉ huy cho việc từng sản phẩm ra thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong thời kỳ kinh doanh đảm bảo việc kinh doanh có hiệu quả.
Vai trò của chính sách sản phẩm: Chính sách sản phẩm có vai trò quan trọng trong hệ thống các chiến lược. - Sản phẩm là phương thức kinh doanh có hiệu quả cao trên cơ sở đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách trong từng thời kỳ kinh doanh. Có sản phẩm doanh nghiệp mới xác định được hướng đi của mình - Sản phẩm là xương sống của chiến lược kinh doanh, nếu không có sản phẩm sẽ không có chính sách giá, chính sách xúc tiến, chính sách phân phối,… - Sản phẩm quyết định hiệu quả kinh doanh nói chinh và chi phối các chính sách khác 1. Chính sách giá Giá cả mang nhiều tên gọi khác nhau.
Đằng sau của những tên gọi đó, các hiện tượng giá cả luôn mang một ý nghĩa chung là: lợi ích kinh tế được xác định bằng tiền. Trong các công cụ Marketing-mix chỉ có biến số giá cả là trực tirsp tạo doanh thu và lợi nhuận thực tế. Còn đói với người mua, giá cả là phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hóa. Vì vậy, những quyết định về giá luôn luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh nghiệp phải đói mặt khi soạn thảo các hoạt động Marketing của mình.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chiến lược giá cả là việc xác định mục tiêu của chiến lược giá, lựa chọn phương pháp định giá, các chiến lược giá của công ty. Trong kinh doanh sản phẩm hàng hóa thì chính sách giá khác với dịch vụ: - Chính sách giá của dịch vụ để làm tăng bằng chứng vật chất để khách hàng cảm nhận được chất lượng dịch vụ mà mình mua để từ đó có thể tôn tạo được hình ảnh của dịch vụ. Nếu sản phẩm chất lượng tốt thì giá phải đặt cao để tôn vinh hình ảnh của doanh nghiệp. Nếu giá không đúng thì việc truyền thông sẽ có tác dụng ngược lại.
Giá ảnh hưởng đến tất cả các phần của kênh phân phối, những người bán, người cung cấp, đối thủ cạnh tranh, khách hàng,… tất cả đều chịu tác động của chính sách giá.