Chương 1: Tổng quan về logistics: khái niệm, phân loại và chương 11: kho ãi trong giáo trình Logistics và những vấn đề cơ ản của Đoàn Thị Hồng Vân; chương 5 : những vấn đề cơ ản về vận tải trong Quản trị hậu cần của Lê Công Hoa (2012); Chương 7: Quản trị hoạt động vận tải trong Quản trị chu i cung ứng của Nguyễn Ph c Nguyên – Lê Thị Minh Hằng (2015). Logistics là ngành mới chỉ phát phát triển trong những năm gần đây tại Việt Nam nhưng lịch sử của nó đã có từ trước đó lâu rồi. Theo Ủy an kinh tế và xã hội châu á thì giai đoạn đầu trong a giai đoạn phát triển của nó cho tới hiện nay là phân phối vật chất đã có từ những năm 60, 70 của thế kỉ 20. Và cho tới ây giờ, nó đã trở thành ngành dịch vụ quan trọng tại nhiều quốc gia và cả Việt Nam.
Cùng với sự phát triển đó, đã có nhiều đề tài liên quan được các tác giả tại Việt Nam tổng kết và ứng dụng: - Trịnh Thị Vân Xuân (2010), Giải pháp phát triển dịch vụ của các doanh nghiệp logistics trên địa àn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phân tích hoạt động logistics trên địa àn quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 – 2010, đề ra các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ trong tương lai. Điểm hạn chế của luận văn là những số liệu, đặc điểm dịch vụ logistics trong quá khứ đã được khắc phục 6 ằng việc thay thế những số liệu gần đây, điều chỉnh theo sự thay đổi của môi trường kinh doanh hiện tại. - Nguyễn Hùng Cường (2015), Biện pháp phát triển dịch vụ giao nhận vận tải hàng hóa ằng đường iển tại công ty Bee Logistics, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng.
Luận văn không chỉ cung cấp các lý thuyết về hoạt động giao nhận mà những thực trạng hoạt động, điểm mạnh, điểm yếu trong dịch vụ của Bee Logistics, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của doanh nghiệp trên thị trường Quảng Ngãi hiện nay. Từ cơ sở này, tác giả sẽ phân tích và xây dựng các iện pháp marketing nhằm tăng tính cạnh tranh với đối thủ trực tiếp này. - Võ Hoài Nam (2011), Chiến lược marketing dịch vụ hàng hải tại công ty cổ phần portserco, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng. Dù dịch vụ hàng hải chỉ là một phần của chu i dịch vụ logistics nhưng luận văn đã cung cấp một phần cơ sở lý thuyết và thực tế để mở rộng hoạt động marketing đối với dịch vụ logistics.
Tổng thể những nghiên cứu trên đã chỉ ra ý nghĩa và tầm quan trọng của marketing dịch vụ. Nhận thức điều đó, từ cơ sở lý luận, đề tài đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, qua đó tiến hành vận dụng vào hoạt động marketing dịch vụ logistics trên địa àn Quảng Ngãi của công ty cổ phần đại lý vận tải SAFI Đà Nẵng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1.1 TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm dịch vụ Theo Lưu Văn Nghiêm (2008): Dịch vụ là một quá trình hoạt động ao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Trên giác độ hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa vô hình mang lại chu i giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó của thị trường [10, Tr.
Từ các khái niệm trên có thể r t ra: - Dịch vụ phải gắn với hoạt động để tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dịch vụ không giống như các loại hàng hóa thông thường, ch ng không tồn tại dưới dạng hiện vật. - Dịch vụ là một quá trình hoạt động diễn ra theo một trình tự ao gồm nhiều khâu, nhiều ước khác nhau. M i khâu, m i ước có thể là những dịch vụ nhánh hoặc dịch vụ độc lập với dịch vụ chính.
- M i loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Giá trị ở đây thỏa mãn mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ.2 Phân loại dịch vụ Phân loại dịch vụ gi p cho các nhà quản lí xác định được chiến lược kinh doanh đ ng đắn, hiệu quả và đồng thời khai thác tốt nguồn tài nguyên cho sản xuất cung ứng dịch vụ, thu h t, thõa mãn tối đa nhu cầu khách hàng. - Phân loại theo phương pháp loại trừ : Dịch vụ là một ộ phận của nền kinh tế ngoài công nghiệp sản xuất hàng hóa hiện hữu, nông nghiệp và khai khoáng.
Như vậy ất cứ loại sản xuất nào 8 không rơi vào a ngành trên đều thuộc dịch vụ, ao gồm: thương mại, vận chuyển, phân phối, ngân hàng, y tế, giải trí - Phân loại theo mức độ liên hệ với khách hàng. Tùy theo mức độ liên hệ với khách hàng mà ta có thể phân loại thành các nhóm từ mức liên hệ cao cho tới mức liên hệ thấp : Dịch vụ thuần t y ,dịch vụ pha trộn, dịch vụ ao hàm sản xuất - Phân loại theo mảng dịch vụ Khả năng tiêu dùng dịch vụ Phương thức chuyển giao Đơn vị trí Đa vị trí Ảnh hưởng tổ Khách hàng đến - Nhà hát -Xe buýt chức, khách nơi cung ứng dịch -Bệnh viện -Nhà hàng hàng/dịch vụ vụ Dịch vụ đến với -Làm vườn -Thư tín khách hàng -Taxi -vá xe lưu động Cả hai cùng đến -Thẻ tín dụng. -Điện thoại với nhau -Du lịch Sơ đồ 1.1: Phân loại dịch vụ theo mảng có cùng đặc tính dựa trên thiết lập ma trận Nguồn: Marketing dịch vụ, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội 2008 [11, Tr.3 Các đặc trƣng của dịch vụ a. Tính vô hình Hàng hóa có hình dáng, kích thước, màu sắc, thậm chí là cả mùi vị.
Khách hàng có thể xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận iết được trước khi mua. Tính không tách rời Điều này có nghĩa dịch vụ không thể tách rời khỏi người cung ứng dịch vụ vì quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu dùng xảy ra đồng thời, người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp x c với nhau tại thời điểm và không gian thích hợp cho cả hai ên. Đặc điểm này cho thấy việc sản xuất cung ứng dịch vụ không thể tùy tiện.
Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình sản xuất mới có thể thực hiện được. Tính không đồng đều về chất lượng Dịch vụ không thể được sản xuất hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hóa. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc nhiều vào sự cảm nhận của khách hàng, điều này ị chi phối ởi các kỹ năng và thái độ của nhân viên phục vụ, trạng thái tinh thần và thể chất của họ tại m i thời điểm và không gian khác nhau.
Do đó khó có thể đạt được sự đồng đều và ổn định của chất lượng dịch vụ. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm ảo tính đồng đều về chất lượng d. Tính không dự trữ được Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian nó được cung cấp nên không thể sản xuất hàng loạt để lưu kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì án ra. Quá trình sản xuất ra dịch vụ cũng đồng thời với quá trình tiêu thụ dịch vụ.
Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này đến khu vực tạo ra ràng uộc dịch vụ phải tiêu dùng trong một thời gian nhất định nếu không thì cũng không còn giá trị nữa đối với khách hàng. Tính không chuyển quyền sở hữu được. Khi mua một hàng hóa, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hóa của mình khi mua. Khi mua dịch vụ khách hàng 10 chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi.4 Marketing dịch vụ.
Theo Lưu Văn Nghiêm (2008): Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống với những quy luật của thị trường dịch vụ, ao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu ằng hệ thống các chính sách, các iện pháp tác động vào toàn ộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức. Marketing dịch vụ được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân ằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội [11, Tr. Khái niệm Marketing dịch vụ ở trên đã đề cập tới một vài tư tưởng cơ ản của Marketing dịch vụ như: - Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của nhu cầu thị trường mục tiêu và những yếu tố tác động, chi phối, ảnh hưởng đến thị trường mục tiêu. - Thỏa mãn các nhu cầu cho con người có hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh trên cơ sở khai thác và huy động mọi nguồn lực cũng như tiềm năng sẵn có của tổ chức.
- Thực hiện cân ằng động các mối quan hệ sản phẩm, dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đổi liên tục các nhu cầu khách hàng. - Cân ằng a lợi ích: lợi ích của xã hội, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của người cung ứng trong sự phát triển ền vững.5 Tam giác marketing dịch vụ Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của marketing áp dụng trong lĩnh vực sản phẩm hữu hình. Tuy nhiên, do đặc 11 trưng của dịch vụ, hoạt động marketing trong kinh doanh dịch vụ được mở rộng so với marketing được áp dụng trong kinh doanh sản phẩm hữu hình. Marketing dịch vụ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ sử dụng các iến số truyền thống, đó là marketing nội ộ và marketing tương tác.
Maketing bên ngoài: là những n lực mà hãng thực hiện để thiết lập nên những kì vọng của khách hàng về dịch vụ và tạo ra lời hứa để khách hàng kì vọng về những gì sẽ được cung cấp.