Tổng quan nghiên cứu

Ngành nhiệt điện đốt than giữ vai trò xương sống trong cơ cấu an ninh năng lượng của Việt Nam, chiếm tới 34,37% sản lượng điện quốc gia năm 2016 với tổng công suất đạt 13.000 MW. Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 điều chỉnh (Quy hoạch điện VII điều chỉnh theo Quyết định số 428/QĐ-TTg), tổng công suất nhiệt điện than được định hướng chạm mốc 26.300 MW vào năm 2020 và tiến tới 55.167 MW vào năm 2030. Đi cùng quy mô công suất đó là nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu gia tăng nhanh chóng, dự kiến đạt 63 triệu tấn than năm 2020 và 129 triệu tấn than vào năm 2030.

Song hành cùng bài toán năng lượng là những áp lực nặng nề về môi trường, đặc biệt là phát thải thủy ngân (Hg) – một chất ô nhiễm độc hại bậc cao, có khả năng tồn lưu lâu trong khí quyển, di chuyển xuyên biên giới và tích lũy sinh học theo chuỗi thức ăn. Theo Báo cáo Đánh giá Thủy ngân Toàn cầu của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), hoạt động đốt than toàn cầu phát thải khoảng 1.480 tấn thủy ngân vào năm 2015, chiếm 21% tổng phát thải do con người gây ra. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Hóa chất năm 2016, lượng thủy ngân phát tán vào không khí từ nhiệt điện than năm 2014 ước tính khoảng 3.484 kg/năm từ mức tiêu thụ 26,4 triệu tấn than.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác định nồng độ, hệ số phát thải và đường đi của thủy ngân trong chu trình đốt than phun (Pulverised Combustion - PC) sử dụng than antraxit nội địa; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật giảm thiểu phát thải khả thi, đáp ứng các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Công ước Minamata về Thủy ngân. Phạm vi nghiên cứu tập trung thu thập dữ liệu tại 8 mỏ than lớn vùng Đông Bắc và tiến hành quan trắc thực địa tại 3 nhà máy nhiệt điện điển hình là Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhiệt điện Phả Lại và Nhiệt điện Ninh Bình trong năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết biến đổi pha và động học nhiệt hóa của thủy ngân trong quá trình cháy tầng nhiệt cao của lò đốt than phun (PC). Trong buồng lửa nhiệt độ cao (trên 1.200°C), toàn bộ thủy ngân liên kết trong khoáng vật than antraxit bị bay hơi và chuyển thành thủy ngân nguyên tố dạng hơi (Hg0). Khi dòng khói thải nguội dần qua các bộ trao đổi nhiệt, thủy ngân nguyên tố trải qua quá trình oxy hóa đồng thể và dị thể để tạo thành thủy ngân hóa trị hai (Hg2+) hoặc hấp phụ lên bề mặt các hạt tro bay tạo thành thủy ngân liên kết hạt (Hgp).

Nghiên cứu vận dụng mô hình lợi ích đồng hành (co-benefit) của các thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí (APC). Hệ thống lọc bụi tĩnh điện dạng khô (ESP) có khả năng loại bỏ trên 95% tro bụi, đồng thời giữ lại phần lớn Hgp. Khi kết hợp ESP với tháp khử lưu huỳnh dạng ướt (FGDw), các ion Hg2+ tan tốt trong nước sẽ bị dung dịch huyền phù đá vôi giữ lại, nâng tổng hiệu quả xử lý thủy ngân lên khoảng 30% đến 50% ở tháp rửa và có thể đạt tới 95% khi phối hợp đồng bộ cả hệ thống lọc bụi và khử lưu huỳnh. Các khái niệm cốt lõi được áp dụng gồm: hệ số phát thải theo bộ công cụ UNEP Toolkit Level 2, hàm lượng carbon chưa cháy (UBC) trong tro bay, phụ gia halogen hóa oxy hóa kim loại nặng và quy chuẩn khí thải công nghiệp QCVN 22:2009/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế quy trình lấy mẫu và phân tích thực nghiệm đa thành phần với cỡ mẫu đại diện gồm 83 mẫu thực địa: 23 mẫu thủy ngân trong khí thải, 30 mẫu bụi tổng (PM), 12 mẫu than cám nguyên liệu (chủng loại 4a đến 6b), 9 mẫu tro bay từ đáy phễu lọc bụi và 9 mẫu xỉ đáy lò. Việc lựa chọn mẫu than được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại kho than thành phẩm của 8 mỏ khai thác trọng điểm thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc (gồm mỏ Uông Bí, Hòn Gai, Núi Béo, Hà Tu, Hà Lầm, Mạo Khê, Vàng Danh, Nam Mẫu) theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1693:2008.

Về phương pháp phân tích khí thải, nghiên cứu sử dụng Phương pháp US EPA 30B – xác định thủy ngân từ nguồn đốt than bằng bẫy hấp phụ carbon kép (carbon sorbent traps) kết hợp thiết bị lấy mẫu Apex Instruments XC-260 với vận tốc hút chuẩn 1 lít/phút liên tục trong 30 phút. Nồng độ thủy ngân được phân tích trực tiếp tại hiện trường thông qua nguyên lý giải hấp nhiệt ở 650°C và quang phổ hấp thụ nguyên tử trên thiết bị Ohio Lumex do UNEP chuyển giao, đảm bảo độ thu hồi mẫu đạt từ 85% đến 115%. Mẫu bụi khí thải được lấy bằng hệ thống đo đẳng tốc (Isokinetic) theo US EPA Method 5 và Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT. Việc lựa chọn phương pháp US EPA 30B bắt nguồn từ độ nhạy vượt trội ở dải nồng độ microgam, kiểm soát chặt chẽ sai số ngưng tụ và đáp ứng tiêu chuẩn đối sánh liên phòng quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 12 mẫu than antraxit đầu vào từ 8 mỏ than cho thấy hàm lượng thủy ngân trung bình dao động từ 0,022 mg/kg đến 0,085 mg/kg. Đây là mức nồng độ thủy ngân thấp hơn đáng kể so với than non và than bitum tại các quốc gia như Trung Quốc (khoảng 0,150 mg/kg) hay Mỹ (khoảng 0,110 mg/kg). Tuy nhiên, do khối lượng than tiêu thụ khổng lồ lên tới hàng triệu tấn mỗi năm cho mỗi nhà máy nhiệt điện, tổng tải lượng phát thải thủy ngân tích lũy ra môi trường vẫn ở mức rất đáng báo động.

Phân bố thủy ngân trong các dòng thải chỉ ra rằng tro bay giữ lại từ 45% đến 65% tổng lượng thủy ngân đầu vào, xỉ đáy lò chỉ giữ lại dưới 5%, trong khi phần còn lại phát tán qua khí thải ống khói dưới dạng hơi Hg0 và Hg2+. Tại 3 nhà máy khảo sát, nồng độ thủy ngân trong khí thải sau hệ thống lọc bụi tĩnh điện ESP có sự chênh lệch rõ rệt:

  • Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh (có hệ thống ESP kết hợp tháp rửa lưu huỳnh FGDw) ghi nhận nồng độ thủy ngân khí thải thấp nhất, đạt mức trung bình khoảng 2,15 µg/Nm3, tương ứng hiệu suất loại bỏ thủy ngân toàn hệ thống đạt trên 60%.
  • Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 1 và Nhiệt điện Ninh Bình (chỉ trang bị hệ thống ESP cũ, không có tháp FGDw) ghi nhận nồng độ thủy ngân trong khí thải cao hơn từ 35% đến 55%, dao động ở mức 3,85 µg/Nm3 đến 5,60 µg/Nm3.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về hiệu quả thu giữ thủy ngân giữa các nhà máy được lý giải bởi đặc tính hóa học của than antraxit Việt Nam. Kết quả phân tích thành phần khoáng cho thấy than antraxit có hàm lượng clo cực thấp (dưới 0,03%), dẫn tới thiếu hụt chất oxy hóa tự nhiên trong khói thải. Do đó, thủy ngân trong buồng lửa chủ yếu tồn tại ở dạng nguyên tố Hg0 khó hòa tan, không thể bị giữ lại hiệu quả nếu chỉ đi qua tháp lọc bụi tĩnh điện thông thường.

Trong các báo cáo phân tích, mối tương quan giữa dữ liệu thực nghiệm được minh họa rõ nét qua đồ thị hồi quy tuyến tính giữa hàm lượng carbon chưa cháy (UBC) trong tro bay và hiệu suất thu giữ thủy ngân: khi chỉ số UBC tăng từ 3% lên 8%, hiệu suất bẫy thủy ngân của tro bay tăng thêm 25%. Đồng thời, bảng cân bằng vật chất (mass balance) đã phản ánh chính xác sự phân chia nồng độ thủy ngân giữa các pha rắn, lỏng và khí. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc lắp đặt bổ sung hệ thống FGDw dạng ướt đóng vai trò quyết định giúp hấp thụ dòng Hg2+ sau khi được oxy hóa, giảm thiểu từ 30% đến 50% lượng thủy ngân tự do thoát ra bầu khí quyển.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật đồng bộ nhằm tối ưu hóa khả năng kiểm soát phát thải thủy ngân cho các nhà máy nhiệt điện than antraxit:

  1. Bổ sung phụ gia Halogen (Bromine/Chlorine) vào quá trình nạp than: Tiến hành phun muối canxi bromua (CaBr2) hoặc clo với liều lượng từ 25 ppm đến 100 ppm vào băng tải than trước khi vào máy nghiền. Giải pháp này giúp oxy hóa trên 80% thủy ngân nguyên tố (Hg0) thành dạng muối thủy ngân (Hg2+) dễ hòa tan, nâng hiệu suất tách khử tại tháp FGDw lên trên 85% trong giai đoạn 2020 - 2025. Chủ thể thực hiện: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện.
  2. Ứng dụng công nghệ phun than hoạt tính tẩm halogen (Brominated PAC Injection): Lắp đặt hệ thống vòi phun chất hấp phụ than hoạt tính vào dòng khí thải tại vị trí trước tháp lọc bụi tĩnh điện ESP với định mức từ 3 kg/triệu Nm3 đến 5 kg/triệu Nm3 khí thải. Mục tiêu giảm thiểu từ 75% đến 90% nồng độ thủy ngân dạng hơi trong lộ trình 2022 - 2026. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý các dự án nhiệt điện than thuộc TKV, EVN và PVN.
  3. Hiện đại hóa và nâng cấp hệ thống xử lý khí thải APC tích hợp: Khẩn trương lắp đặt tháp khử lưu huỳnh dạng ướt (FGDw) và cải tiến hệ thống lọc bụi tĩnh điện ESP cho các tổ máy công nghệ cũ (như Phả Lại 1, Ninh Bình), nâng hiệu suất bắt giữ bụi và thủy ngân liên kết hạt lên trên 98% trước năm 2025. Chủ thể thực hiện: Chủ đầu tư các nhà máy nhiệt điện đang vận hành.
  4. Hoàn thiện thể chế và lắp đặt thiết bị quan trắc liên tục (CEMS): Bộ Tài nguyên và Môi trường cần bổ sung giới hạn nồng độ phát thải thủy ngân (khuyến nghị ngưỡng tối đa từ 3 µg/Nm3 đến 5 µg/Nm3) vào Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải nhiệt điện sửa đổi; đồng thời yêu cầu 100% nhà máy nhiệt điện đốt than lắp đặt module đo thủy ngân tự động trước năm 2027. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Bộ Công Thương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách môi trường: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường và Vụ Khoa học và Công nghệ trong việc xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia (NAP) về quản lý thủy ngân, cập nhật QCVN 22 và hoàn thiện báo cáo quốc gia thực thi Công ước Minamata.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và kỹ sư vận hành nhà máy nhiệt điện: Giúp đội ngũ quản lý kỹ thuật tại các tập đoàn EVN, TKV, PVN đánh giá chính xác hiện trạng phát thải thủy ngân từ than antraxit, từ đó xây dựng kế hoạch nâng cấp thiết bị ESP, FGDw và tối ưu hóa chi phí xử lý khí thải.
  • Các đơn vị tư vấn và chuyển giao công nghệ xử lý môi trường: Cung cấp thông số tính toán thiết kế cho các kỹ sư môi trường trong việc phát triển hệ thống phun than hoạt tính PAC, module hóa chất halogen và tháp hấp thụ khử lưu huỳnh công suất lớn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Môi trường - Năng lượng: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về quy trình quan trắc thủy ngân khí thải theo US EPA 30B, phương pháp lấy mẫu 83 điểm và mô hình tính toán phát thải UNEP Toolkit Level 2.

Câu hỏi thường gặp

Hàm lượng thủy ngân trong than antraxit Việt Nam có cao hơn than đá thế giới không?
Kết quả phân tích 12 mẫu than từ 8 mỏ lớn vùng Quảng Ninh cho thấy nồng độ thủy ngân trong than antraxit dao động từ 0,022 mg/kg đến 0,085 mg/kg, thấp hơn mức trung bình 0,110 mg/kg của Mỹ và 0,150 mg/kg của Trung Quốc. Tuy nhiên, do quy mô đốt hàng chục triệu tấn than mỗi năm, tổng tải lượng phát thải tích tụ vẫn rất lớn.

Tại sao hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP) đơn lẻ khó xử lý triệt để thủy ngân?
Hệ thống ESP đạt hiệu suất lọc bụi trên 95% nhưng chỉ giữ lại được thủy ngân liên kết hạt (Hgp). Đối với than antraxit nghèo clo, phần lớn thủy ngân tồn tại ở dạng hơi nguyên tố (Hg0) không tích điện và không tan, khiến hơn 50% thủy ngân dễ dàng đi xuyên qua phễu lọc tĩnh điện ra môi trường.

Phương pháp US EPA 30B có ưu điểm gì trong quan trắc khí thải nhiệt điện?
Phương pháp US EPA 30B sử dụng bẫy hấp phụ carbon kép với lưu lượng hút ổn định 1 lít/phút trong 30 phút và giải hấp nhiệt ở 650°C. Phương pháp này đạt độ thu hồi từ 85% đến 115%, hạn chế tối đa sự thất thoát mẫu và đo chính xác nồng độ thủy ngân ở mức microgam/Nm3 trực tiếp tại hiện trường.

Hệ thống khử lưu huỳnh dạng ướt (FGDw) hỗ trợ giảm phát thải thủy ngân như thế nào?
Tháp rửa FGDw sử dụng huyền phù đá vôi để khử SO2, đồng thời hòa tan và giữ lại các hợp chất thủy ngân oxy hóa (Hg2+) với hiệu suất từ 30% đến 50%. Khi kết hợp đồng bộ ESP và FGDw, tổng hiệu quả thu giữ thủy ngân trong toàn chu trình xử lý có thể đạt từ 60% đến 95%.

Giải pháp kỹ thuật nào giúp nhà máy nhiệt điện Việt Nam giảm thủy ngân nhanh và kinh tế nhất?
Giải pháp khả thi nhất là bổ sung phụ gia halogen (canxi bromua với liều lượng 25 ppm đến 100 ppm) vào than đầu vào. Phương pháp này tận dụng trực tiếp tháp rửa FGDw sẵn có để oxy hóa và giữ lại trên 80% thủy ngân mà không đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng công trình mới quá lớn.

Kết luận

  • Công trình đã thiết lập bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện với 83 mẫu phân tích, xác định nồng độ thủy ngân trong than antraxit nội địa dao động từ 0,022 mg/kg đến 0,085 mg/kg.
  • Đánh giá định lượng hiệu quả xử lý khí thải tại 3 nhà máy nhiệt điện than, chứng minh hệ thống kết hợp ESP và FGDw giúp giảm trên 60% nồng độ phát thải thủy ngân so với hệ thống ESP đơn lẻ.
  • Xác định nguyên nhân cốt lõi gây khó khăn cho việc xử lý thủy ngân là do than antraxit Việt Nam có hàm lượng clo thấp (dưới 0,03%), khiến thủy ngân chủ yếu tồn tại ở dạng hơi khó tách lọc.
  • Đề xuất lộ trình kỹ thuật khả thi gồm 4 giải pháp: phụ gia halogen, phun than hoạt tính PAC, cải tạo nâng cấp tháp FGDw và ban hành quy chuẩn nồng độ phát thải từ 3 µg/Nm3 đến 5 µg/Nm3.
  • Định hướng giai đoạn 2025 - 2030 cần mở rộng lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục CEMS tại tất cả các tổ máy nhiệt điện than trên toàn quốc, góp phần thực hiện thắng lợi các nghĩa vụ quốc tế về bảo vệ môi trường và phát triển năng lượng bền vững.