MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Với quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ trong chuyên môn y tế, các vật dụng chất thải nhựa đang được ưu tiên trong công tác khám, chữa bệnh vì nó giảm thiểu đáng kể khả năng lây nhiễm chéo, khối lượng nhẹ, chi phí thấp. CTYT-N bao gồm các vật liệu nhựa sử dụng trong hoạt động y tế như bao bì, ống tiêm, chai thuốc, găng tay, dây dịch truyền và nhiều vật dụng phòng mổ. Đặc điểm của chất thải này thường chứa các chất hóa học, vi sinh vật có thể gây hại cho sức khỏe con người và môi trường nếu không được xử lý đúng cách.
Công tác loại bỏ và xử lý rác thải nhựa y tế một cách đúng đắn không chỉ ngăn chặn sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm, bảo vệ môi trường. Do đó, việc quản lý CTYT-N là một vấn đề cấp bách đối với các tổ chức y tế và cộng đồng. Trong bối cảnh này, nhu cầu tìm kiếm giải pháp quản lý CTYT-N một cách hiệu quả không chỉ tập trung vào việc giảm thiểu lượng rác thải, mà còn phải chú trọng vào khía cạnh kinh tế. Hiện nay, số lượng CTYT-N được tạo ra hàng ngày trên toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng do sự gia tăng của dân số, dịch bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe.
Nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới vẫn đang phải đối mặt với sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng và quy trình quản lý CTYT-N hiệu quả. Việc thu gom, xử lý và tái chế CTYT- N thường gặp phải nhiều khó khăn do thiếu hụt nguồn lực và kỹ thuật. Việc sản xuất nhựa phục vụ trong lĩnh vực y tế gia tăng trong thời kỳ đại dịch COVID-19 ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống quản lý chất thải rắn của các nước Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan và Trung Quốc, họ gặp phải các vấn đề về xử lý rác thải nhựa do bệnh nhân thải ra, bao gồm cả sự gia tăng đột ngột của CTYT-N (Amit Kumar el at. Tại Việt Nam, cả nước có hơn 13.000 cơ sở y tế, mỗi năm điều trị cho hơn 150 triệu lượt người và khoảng hơn 300 triệu lượt khám ngoại trú.
Khi vào bệnh viện, bệnh nhân thường đi kèm theo người nhà, cho nên lượng rác thải từ bệnh nhân và người nhà cùng với rác thải liên quan đến y tế rất lớn. Theo báo cáo từ một số bệnh viện, khoảng 5% trong số CTYT phát sinh là chất thải nhựa, khoảng 22 tấn/ngày. Trong khi đó, việc thay đổi nhận thức, hình thành thói quen cho NVYT, bệnh nhân 2 và người nhà bệnh nhân về thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần, hạn chế việc phát sinh chất thải nhựa là một quá trình và cũng mới chỉ bước đầu được thực hiện tại một số cơ sở y tế (Nguyễn Quốc, 2019). Do đặc thù của ngành nên chủng loại và khối lượng chất thải nhựa trong y tế rất đa dạng và phát sinh với khối lượng lớn.
CTYT-N không chỉ là bơm kim tiêm, các bao bì, lọ nhựa đựng thuốc, dịch truyền mà còn là túi ni lông và các sản phẩm nhựa dùng một lần để đựng thức ăn, nước uống cho người bệnh và thân nhân. Hiện nay, BVĐKXA đã phát sinh khoảng 150 tấn nhựa/năm (2023), số lượng này bao gồm rác nhựa trong hoạt động chuyên môn và sinh hoạt hằng ngày. Hiện tại, BVĐKXA vẫn đang chú trọng công tác giảm thiểu CTYT-N, tuy nhiên chỉ áp dụng các giải pháp đơn giản và ngắn hạn như truyền thông nội bộ, tập huấn phân loại chất thải nhựa và các phong trào thi đua sáng tạo bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nhựa y tế. Để đáp ứng nhu cầu quản lý chặt chẽ CTYT-N, hiện nay đã nhiều nghiên cứu trên thế giới tập trung vào vấn đề giải quyết ảnh hưởng của nhựa y tế đối với môi trường và giảm thiểu chúng.
Các nghiên cứu về CTYT-N thường sử dụng mô hình như 3R, 5S hoặc đề xuất các biện pháp công nghệ để tái chế nhựa y tế… mặc dù kết quả nghiên cứu tối ưu được giá trị sử dụng và kéo dài vòng đời nhựa y tế tuy nhiên vẫn chưa khai thác triệt để công tác tổ chức và trách nhiệm của các bên liên quan. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc quản lý CTYT-N theo hướng KTTH tại BVĐKXA không chỉ mang tính quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng mà còn là một đề tài đầy thách thức, đòi hỏi sự đồng hành giữa cả các bên liên quan bao gồm nhà đầu tư bệnh viện, NVYT, cộng đồng nhằm tạo ra những giải pháp toàn diện và bền vững. Nghiên cứu này đánh giá thực tế hiện trạng phát sinh và quản lý CTYT-N hiện tại, xác định những hạn chế và đề xuất giải pháp bền vững để nâng cao hiệu quả và trách nhiệm trong công tác quản lý CTYT-N của bệnh viện trong tương lai. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận văn “Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa y tế theo hướng kinh tế tuần hoàn tại bệnh viện Đa khoa Xuyên Á – TPHCM” sẽ tập trung vào việc đánh 3 giá tình hình phát thải và quản lý CTYT-N tại BVĐKXA từ đó đề xuất các giải pháp tiếp cận KTTH trong công đoạn tổ chức, phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTYT-N tại BVĐKXA.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Các nội dung của luận văn bao gồm: 5. Tổng quan về quản lý CTYT-N và KTTH. Đánh giá hiện trạng phát sinh và quản lý CTYT-N tại bệnh viện BVĐKXA. Đánh giá hiệu quả của các chính sách và quy trình hiện hành trong công tác quản lý CTYT-N.
Đề xuất giải pháp cho công tác quản lý CTYT-N theo hướng KTTH phù hợp với BVĐKXA. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý CTYT-N tại BVĐKXA theo các nguyên tắc của KTTH. Khách thể nghiên cứu: 1. NVYT (lãnh đạo bệnh viện, bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý): nhận thức, và thái độ và hành vi của NVYT trong phân loại CTYT-Nh và hiểu biết về nhựa y tế.
Người ra chính sách: Nghiên cứu xem xét những người đưa ra và thực hiện chính sách, quy định liên quan đến quản lý CTYT và nhựa y tế. Nhà cung cấp dịch vụ cho bệnh viện: Các công ty cung cấp dịch vụ liên quan đến việc quản lý CTYT-N tại bệnh viện. Bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân: ý kiến của bệnh nhân đối với môi trường bệnh viện, thái độ phân loại CTYT, hiểu biết về nhựa đúng đắn. Thông qua việc nghiên cứu các đối tượng này, luận văn sẽ có cái nhìn toàn diện về cách mà các bên liên quan tham gia vào quá trình quản lý CTYT-N theo hướng KTTH tại BVĐKXA.
Phạm vi nghiên cứu: BVĐKXA, quy mô 800 giường bệnh, hoạt động từ tháng 5/2014 đến nay. 4 Thời gian nghiên cứu: các dữ liệu được thu thập từ tháng 01/2023 đến hết tháng 03/2024. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (1) Phương pháp tổng quan tài liệu, thu thập dữ liệu (phục vụ cho nghiên nội dung nghiên cứu số 1, 2, 3 và 5) - Mục đích: Thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến đề tài. - Cách thực hiện: Tổng hợp các tài liệu khác nhau như các báo cáo thống kê, văn bản luật hoặc từ các phương tiện thông tin đại chúng.
Các văn bản pháp luật có liên quan. Sách, bài báo khoa học về KTTH và quản lý CTYT-N. Báo cáo đánh giá tác động môi trường qua các giai đoạn của BVĐKXA. Báo cáo về công tác bảo vệ môi trường hằng năm tại của BVĐKXA.
Các sổ theo dõi, chứng từ chất thải. (2) Phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu (phục vụ cho nghiên nội dung nghiên cứu số 2 và 3) Tổng hợp tất cả các tài liệu liên quan có độ tin cậy và chính xác cao về số lượng chất thải nhựa: tổng hợp dữ liệu thống kê về lượng CTYT và rác thải nhựa theo thời gian để vẽ biểu đồ và đánh giá tiềm năng tái chế. Dữ liệu về số lượng và mức tiêu hao thiết bị vật tư y tế trong quá trình hoạt động chuyên môn. Tiến hành chọn lọc, phân tích xử lý thông tin dựa trên các thuật toán và phần mềm tin học.
Từ đó lập bảng thống kê và vẽ biểu đồ, sơ đồ thể hiện để làm cơ sở đánh giá. (3) Phương pháp phỏng vấn (phục vụ cho nghiên nội dung nghiên cứu số 4) - Thu thập thông tin trực tiếp thông qua bảng khảo sát hoặc trao đổi trực tiếp với các bên liên quan nhằm tìm hiểu tất cả các thông tin hoạt động từng bộ phận, nắm bắt được kiến thức, nhận thức, thái độ và hành vi (theo nguyên tắc kiến thức – thái độ – hành vi – KAP) của các bên liên quan về việc quản lý CTYT-N tại BVĐKXA. Lý thuyết về KAP cho thấy: khi có kiến thức đúng thái độ đúng hành vi đúng.1: Phân loại đối tượng và nội dung phỏng vấn (cấu trúc KAP) ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG PHỎNG VẤN MỤC ĐÍCH NVYT (Bác sĩ, kỹ - Kiến thức về phân loại thuật viên, điều dưỡng, CTYT. hộ lý): với độ tin cậy - Nhận thức về mức ảnh 95%, biên sai số là 0.05, hưởng của CTYT-N đối với Bằng phương pháp của môi trường.
Mark Saunders về quyết - Thái độ của NVYT trong định kích cỡ mẫu (bảng việc thực hiện phân loại chất 1.2) cho loại phiếu khảo thải tại nguồn. - Sử dụng kết quả khảo sát sát dành cho NVYT. Từ - Hành vi phân loại nhựa y tế NVYT và bệnh nhân, thân đây, sử dụng hàm và bảo vệ môi trường. nhân để đánh giá được kiến Forecast trong Excel ta thức, thái độ, hành vi của họ tính toán ra được tổng số trong công đoạn phân loại phiếu cần khảo sát là CTYT-N.
Từ đó, đưa ra 295 phiếu cho tổng thể được giải pháp cải thiện mẫu là 1.390 NVYT (giá hiệu quả công tác phân loại trị nằm giữ 1.000 và CTYT-N tại nguồn hướng 2. đến mô hình kinh tế tuần Bệnh nhân hoặc - Hiểu biết về phân loại chất hoàn. thân nhân: 200 phiếu thải tại nguồn và nhựa y tế. - Thái độ về bảo vệ môi trường.
- Hành vi giảm thiếu, phân loại chất thải tại nguồn. - Mức độ hài lòng đối với bệnh viện. Ban giám đốc: số lượng - Hoạt động quản lý. Kết quả khảo sát nhà đầu tư 3 phiếu - Chính sách hỗ trợ.
bệnh viện, ta xác định được 6 - Hoạt động liên quan đến sự quan tâm của họ đối với môi trường. môi trường thông qua mức - Mức sẵn sàng chi trả cho sẵn lòng chi trả cho công các hoạt động quản lý nghệ tiền xử lý CTYT tại CTYT. Đồng thời, cải - Mục tiêu và phương hướng thiện công tác tổ chức, trong tương lai.