phần mở đầu, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, đồ thị, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài luận án. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổn thất than và giải pháp kinh tế giảm tổn thất than trong khai thác hầm lò. Chƣơng 3: Thực trạng tổn thất than và giải pháp kinh tế giảm tổn thất than đã áp dụng ở các mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp kinh tế giảm tổn thất than trong khai thác hầm lò, áp dụng cho các mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.
9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Than là nguyên, nhiên liệu quan trọng của nhiều ngành sản xuất và đời sống. Việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên hữu hạn, không thể tái tạo này là mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy, cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đề cập đến những vấn đề có liên quan đến tổn thất than, nguyên nhân gây ra tổn thất than trong quá trình khai thác và giải pháp giảm tổn thất than, trong đó có giải pháp kinh tế.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án sẽ đƣợc trình bày một cách khái quát theo từng nhóm vấn đề nhƣ sau. Các công trình nghiên cứu về tổn thất than 1. Về cơ sở lý luận Cơ sở lý luận về tổn thất than bao gồm các nội dung nhƣ: khái niệm, phân loại tổn thất, nguyên nhân gây ra tổn thất, phƣơng pháp xác định tỉ lệ tổn thất. Có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các nội dung nói trên nhƣ công trình [15], [18], [19], [20].
Tuy nhiên, mỗi công trình đƣa ra khái niệm, cách phân loại tổn thất và nguyên nhân gây ra tổn thất theo một góc độ khác nhau. Về khái niệm tổn thất than, mặc dù có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm tổn thất than nhƣng các khái niệm này đƣợc phát biểu ở nhiều góc độ khác nhau cho khoáng sản nói chung và cho khoáng sản than nói riêng. Tổn thất than xảy ra ở nhiều giai đoạn khác nhau, phạm vi khác nhau và do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy khái niệm tổn thất than cần đảm bảo ý nghĩa chung của tổn thất than và phù hợp với phạm vi nghiên cứu. Dựa trên những khái niệm đã đề cập trong các công trình nghiên cứu tiếp cận đƣợc, cần nghiên cứu thêm để đƣa ra khái niệm về tổn thất than đảm bảo ngắn gọn và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án.
10 Về phân loại tổn thất, có một số công trình đề cập đến các dạng tổn thất cũng nhƣ một số nguyên nhân gây ra tổn thất. Cụ thể: - Tiến sĩ Nguyễn Tiến Chỉnh [7], phân loại tổn thất theo nguyên nhân. Bao gồm: - Tổn thất do điều kiện và công nghệ khai thác - Tổn thất trong quá trình khai thác - Tổn thất về chất lƣợng than - Tổn thất trong quá trình sàng tuyển, chế biến, tiêu thụ và sử dụng than - Theo GS. TS Hồ Sĩ Giao và TS Bùi Xuân Nam[15], tổn thất bao gồm các dạng: - Tổn thất chung - Tổn thất khai thác - Tổn thất theo thiết kế - Tổn thất định mức Tổn thất kế hoạch Nhƣ vậy có thể thấy các dạng tổn thất cũng nhƣ nguyên nhân gây ra tổn thất đã nêu ra trong các công trình nghiên cứu chƣa đảm bảo tính hệ thống, tiêu thức phân loại chƣa thực sự rõ ràng.
Để định hƣớng cho việc nghiên cứu về phạm trù tổn thất than cần phân loại tổn thất theo những tiêu thức cụ thể, qua đó có thể cho thấy các dạng tổn thất khác nhau, nguyên nhân gây ra tổn thất than, đặc biệt là các nguyên nhân kinh tế gây ra tổn thất than làm cơ sở để nghiên cứu về giải pháp kinh tế giảm tổn thất than trong khai thác hầm lò. Về thực tiễn Có rất ít các công trình nghiên cứu về tình hình tổn thất than của các công ty khai thác than hầm lò. Công trình [1], [17] đề cập đến tình hình tổn thất than trong khai thác hầm lò nói chung và tình hình tổn thất than của Công ty than Vàng Danh nói riêng. Tác giả Lê Nhƣ H ng [17] cho rằng: “Tổn thất than trong khai thác hầm lò của Việt nam đang ở mức cao, nguyên nhân chủ quan là do các doanh nghiệp không trung thực trong khai báo mà mấu chốt là do cơ chế quản lý chưa thực sự minh bạch thì nguyên nhân khách quan vẫn là do công nghệ khai thác còn lạc hậu”.
11 Tác giả Trần Trọng Bình [1] đƣa ra số liệu thống kê về tỉ lệ tổn thất than trong khai thác hầm lò của Công ty cổ phần than Vàng Danh từ năm 2005 đến 2012 và phân tích các nguyên nhân gây ra tổn thất. Tuy nhiên, việc phân tích mới chỉ tập trung vào các nguyên nhân mang tính khách quan. Ngoài ra, về tình hình tổn thất than trong khai thác của các mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thƣờng đƣợc đề cập trong các hội nghị chuyên đề của Tập đoàn về công nghệ khai thác than nói chung và cơ giới hóa khai thác than nói riêng. Nhƣ vậy, các nghiên cứu về tình hình tổn thất than của các công ty than thuộc Tập đoàn TKV không nhiều, số liệu thống kê về tỉ lệ tổn thất than cũng nhƣ các nguyên nhân gây ra tổn thất than chƣa đầy đủ, chƣa minh bạch.
Thực tế này cho thấy, vấn đề tổn thất than đã, đang là vấn đề khá nhạy cảm và việc thu thập số liệu thống kê về tỉ lệ tổn thất, nguyên nhân thực tế gây ra tổn thất than còn tƣơng đối khó khăn. Thực tế này gây ra tình trạng đánh giá không đúng về thực trạng tổn thất than, về nguyên nhân gây ra tổn thất than và ảnh hƣởng không nhỏ đến việc đƣa ra các giải pháp phù hợp nhằm giảm tổn thất than trong khai thác hầm lò. Các công trình nghiên cứu về giải pháp giảm tổn thất than 1. Những nghiên cứu về giải pháp công nghệ Giảm tổn thất than và tận thu tối đa tài nguyên than là mục tiêu của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản nói chung và của các công ty than thuộc Tập đoàn nói riêng.
Chính vì vậy, tính đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu đã mang lại kết quả tích cực đối với mục tiêu giảm tổn thất than cũng nhƣ tận thu tối đa tài nguyên than trong khai thác hầm lò. Trƣơng Đức Dƣ và nnk [14] đã đề ra khá nhiều giải pháp khác nhau nhằm giảm tổn thất than trong khai thác hầm lò. Cụ thể: + Đối với các vỉa than có chiều dày mỏng, áp dụng sơ đồ công nghệ khai thác cơ giới hóa đồng bộ cho vỉa dốc thoải đến dốc nghiêng hoặc áp dụng sơ đồ công nghệ không chống giữ khoảng không trƣớc gƣơng cho vỉa dốc nghiêng đến dốc đứng.
12 + Đối với tổn thất than do công nghệ có thể áp dụng các giải pháp khai thác trụ bảo vệ lò dọc vỉa và thay thế bằng trụ dải nhân tạo (dải đá chèn từ đào lò, vật liệu nhân tạo,…); áp dụng sơ đồ công nghệ (SĐCN) chia lớp nghiêng, khấu lớp vách trải lƣới, khấu lớp trụ, thu hồi than lớp giữa; áp dụng SĐCN khai thác chia cột theo hƣớng dốc, sử dụng tổ hợp dàn chống 2NASH kết hợp máy bào than;… + Để khai thác hầm lò phần trữ lƣợng than trong trụ bảo vệ áp dụng công nghệ khai thác chèn lò. Công nghệ này đã đƣợc thử nghiệm tại một số dự án trong đó có dự án khai thác dƣới mức -150 mỏ Mạo Khê, khai thác mỏ hầm lò Núi Béo. Đối với mỏ Mạo Khê, nếu áp dụng công nghệ này có thể khai thác thêm nhiều triệu tấn than, tuổi thọ tăng 10 năm. Đối với mỏ Núi Béo, trong tổng trữ lƣợng công nghiệp (51,101 triệu tấn) có 20,324 triệu tấn khai thác bằng công nghệ chèn lò, nếu không áp dụng công nghệ này thì tuổi thọ của dự án giảm từ 33 năm xuống còn 22 năm.
Nhƣ vậy, hiện nay có khá nhiều giải pháp công nghệ đƣợc nghiên cứu và áp dụng nhằm giảm tổn thất than trong khai thác hầm lò. Tuy nhiên, các tác giả cũng cho rằng, áp dụng công nghệ mới nhằm giảm tổn thất than làm giá thành sản xuất tăng rất cao, điều kiện tiên quyết để áp dụng là: giá thành sản xuất bằng công nghệ khai thác mới phải nhỏ hơn giá bán sản phẩm. Cùng với việc đƣa ra các giải pháp về công nghệ nhằm giảm tổn thất than, tận thu tối đa tài nguyên than trong khai thác hầm lò, một số tác giả cũng cho rằng:“Áp dụng công nghệ tiên tiến cần được nhìn nhận từ 2 khía cạnh là lợi ích và rủi ro, rủi ro rất lớn nếu việc áp dụng không được xem xét thấu đáo về điều kiện áp dụng, từ năm 2004 đến 2013, vốn đầu tư cho dây chuyền cơ giới hóa khai thác dao động từ 20,67 tỉ đồng đến 215,5 tỉ đồng nhưng có một số dây chuyền hoạt động không hiệu quả như ở mỏ than Dương Huy, Nam Mẫu” [17]. Hoặc “Với sự phát triển về công nghệ của thế giới, ngày càng có nhiều thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác khai thác mỏ được an toàn, tận thu tối đa tài nguyên khoáng sản nhưng hiệu quả của công tác quản trị tài nguyên khoáng sản vẫn bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người”[31].
Những nghiên cứu về giải pháp kinh tế Ngoài các giải pháp về công nghệ, một số công trình nghiên cứu đề xuất một số giải pháp mang tính kinh tế nhằm giảm tổn thất than, tận thu tối đa tài nguyên than trong khai thác hầm lò. Đề tài cấp bộ do Tôn Thu Hƣơng chủ trì [19] đã đề xuất các biện pháp nâng cao hệ số thu hồi than trong quá trình khai thác. Các đề xuất đƣợc hƣớng đến đến từng chủ thể có liên quan nhƣ: Nhà nƣớc, Tổng công ty Than Việt Nam (TVN), các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh than thuộc TVN. Tuy nhiên, các biện pháp khuyến khích nâng cao hệ số thu hồi than mới dừng lại ở việc đề ra phƣơng hƣớng mà chƣa có sự cụ thể hóa cho từng giải pháp với tên gọi và những tính toán cụ thể.