CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Những vấn đề lý luận thực tiễn về Ngân sách Nhà nước, chi Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm về Ngân sách Nhà nước Ngân sách nhà nước là một phạm trù lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ và được sử dụng như một công cụ để thực hiện chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đất nước.
"Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước". Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 của Quốc Hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. NSNN có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một năm. Ở nước ta hiện nay, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
NSNN được quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Trong đó, Quốc Hội là cơ quan cao nhất có quyền quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN. Tổng quan về chi Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm chi Ngân sách Nhà nước Chi ngân sách Nhà nước là qúa trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách chế 4 van độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ. Đặc điểm chi Ngân sách nhà nước - Chi NSNN gắn chặt với hoạt động của bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ chính trị, kinh tế và xã hội. Quy mô tổ chức bộ máy nhà nước, khối lượng, phạm vi nhiệm vụ do Nhà nước đảm đương có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng dự toán chi NSNN. - Các khoản chi NSNN thường được xem xét tính hiệu quả ở tầm vĩ mô, tức là các khoản chi NSNN phải được xem xét một cách toàn diện và dựa vào mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội mà Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ.
- Các khoản chi NSNN thường mang tính chất không bồi hoàn trực tiếp. Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng, các khoản chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh,… - Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ. Vai trò chi Ngân sách Nhà nước - Chi thường xuyên tác động trực tiếp đến đến việc thực hiện các chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước. - Chi thường xuyên là công cụ để Nhà nước thực hiện mục tiêu ổn định và điều chỉnh thu nhập, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, thực hiện các chính sách xã hội… góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.
- Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện điều tiết, điều chỉnh thị trường để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước. Nói cách khác chi thường xuyên được xem là một trong những công cụ kích thích phát triển và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. - Chi thường xuyên là công cụ ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh. Thông qua chi thường xuyên, Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo ổn định, an toàn xã hội và an ninh quốc phòng.
Phân loại chi Ngân sách Nhà nước Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi. Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNN, song có thể sắp xếp theo những tiêu thức phân loại chủ yếu sau: a. Phân loại theo tính chất kinh tế: Chia làm 02 loại gồm chi thường xuyên NSNN và chi đầu tư phát triển NSNN. - Chi thường xuyên: Là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và có tính chất thường xuyên để tài trợ cho các hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm duy trì “ đời sống quốc gia”.
Về nguyên tắc, các khoản chi này phải được tài trợ bằng các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của ngân sách Nhà nước. - Chi đầu tư phát triển NSNN: Chi đầu tư phát triển NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hoá nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Phân loại theo cấp ngân sách: 04 cấp gồm Ngân sách Trung ương; Ngân sách tỉnh, thành phố; Ngân sách quận, huyện, thị xã; Ngân sách xã, phường, thị trấn. Phân loại theo mục đích sử dụng - Chi để đảm bảo cho bộ máy Nhà nước tồn tại và hoạt động bình thường, bao gồm: + Các khoản chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị cho trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước; + Các khoản chi trực tiếp cho con người như tiền lương, tiền công, tiền thưởng, các khoản tiền phúc lợi của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước.
+ Các khoản chi thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước như: điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, công tác phí, tiếp khách, hội nghị … - Chi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, bao gồm: + Chi cho quốc phòng, an ninh như: chi xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí; chi trực tiếp cho đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ; chi thường xuyên cho các lực 6 van lượng quốc phòng, an ninh thực hiện nhiệm vụ; + Chi cho phát triển văn hoá, giáo dục, y tế xã hội; + Chi cho phát triển kinh tế như chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như: giao thông, thuỷ lợi, điện, hệ thống thông tin liên lạc …; chi đầu tư trực tiếp cho một số ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế; các khoản chi khác như: chi cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ… + Chi cho nhiệm vụ đối ngoại như việc đóng góp vào các quỹ Tài chính Quốc gia; chi phí cho đoàn ra, đoàn vào; chi cho việc tổ chức hội nghị, giao lưu quốc tế… 1. Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.1 Khái niệm Kho bạc Nhà nước: Căn cứ quyết định 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/07/2015 của TTCP, “Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật”. Kiểm soát chi thường xuyên NSNN: Kiểm soát chi thường xuyên NSNN là quá trình KBNN thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo cơ chế chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà nước quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng giai đoạn trên cơ sở hồ sơ chứng từ do đơn vị sử dụng ngân sách và các đơn vị có quan hệ ngân sách để đảm bảo các khoản chi đúng nguyên tắc, đúng chế độ, tiết kiệm chi phí với mục đích cuối cùng là sử dụng tối ưu hiệu quả nguồn vốn NSNN. Vai trò, chức năng của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước 1.1 Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước Vai trò của KBNN trong KSC thường xuyên NSNN được thực hiện khái quát qua 3 nội dung cơ bản sau: 7 van - KBNN có quyền từ chối cấp phát, thanh toán đối với các khoản chi không có dự toán, chi không đúng mục đích, chi sai chế độ tiêu chuẩn định mức do cấp có thẩm quyền phê duyệt qua đó tăng cường hiệu quả công tác chi thường xuyên NSNN; - KBNN thực hiện giám sát, ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực trong quản lý chi thường xuyên NSNN; - Thúc đẩy, hoàn thiện chế độ quản lý kinh phí ngân sách tại các đơn vị thụ hưởng NSNN; Thông qua các nội dung trên, có thể thấy KBNN có một vai trò hết sức quan trọng đối với công tác KSC thường xuyên NSNN.
Diễn đạt một cách hình ảnh thì KBNN là “Trạm canh gác cuối cùng” khi đồng vốn của nhà nước ra khỏi quỹ NSNN.2 Chức năng của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước - Quản lý Nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý. - Huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái và trái phiếu. Thực hiện và cụ thể hoá các chức năng nêu trên, Chính phủ, Bộ Tài chính quy định nhiệm vụ của KBNN bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành. - Quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính của Nhà nước + Quản lý quỹ NSNN: KBNN có trách nhiệm quản lý toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, tiền trên tài khoản của NSNN các cấp, cụ thể: • KBNN có nhiệm vụ tập trung, phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN do các tổ chức và cá nhân nộp tại hệ thống KBNN; thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân sách.
• KBNN tổ chức thực hiện chi NSNN.