Chương 1. Một số vấn đề lý luận vé no dong bao hiểm xã hội của các doanh nghiệp và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Tình trạng nợ đóng bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phô Hà Nội. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp hạn chế tình trạng nợ đóng bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
12 NOI DUNG CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE NO DONG BAO HIEM XA HOI TAI CAC DOANH NGHIEP VA QUY DINH CUA PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH 1. Một số van dé lý luận về nợ đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp 1. Bảo hiểm xã hội và trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp 1. Bảo hiểm xã hội - Khái niệm bảo hiểm xã hội: Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm những quyên lợi vật chất cho công nhán viên chức khi không làm việc vì 6m dau, sinh đẻ, gid yếu, bị tai nạn lao động”7.
Khái niệm nay cho thay đôi tượng thuộc diện được hưởng BHXH chỉ gồm công nhân viên chức mà không có những đối tượng NLD làm việc theo HDLD. Điều này tương đồng với những quy định của Việt Nam trong thời kỳ đầu triển khai thực hiện chính sách BHXH nhưng không còn phù hợp với tình hình hiện nay khi xu hướng của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là chú trọng mở rộng đôi tượng thuộc diện tham gia BHXH. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tại Công ước số 102 - Công ước quy phạm tối thiêu về an sinh xã hội năm 1952: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguôn dong góp vào quỹ bảo hiểm xã hội dé trợ cấp trong các trường hop 6m dau, tai nạn, thương tat, già yếu, thất nghiệp. Dong thời chăm sóc y té và trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Theo đó, BHXH gồm 09 chế độ: chăm sóc y tế, trợ cấp 6m đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tudi gia, tro cap TNLD hoặc BNN, trợ cap gia dinh, tro cấp 7 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. 13 tàn tật, trợ cấp tử tuất. Như vậy, khái nệm BHXH theo Công ước số 102 mang nghĩa rộng, bao quát tất cả các chế độ của hệ thống an sinh xã hội. Việt Nam hiện nay chưa phê chuẩn Công ước số 102 của ILO nhưng cũng có những quy định mang tính tương đồng với tổ chức quốc tế này, theo khoản 1 Điều 3 Luật BHXH 2014: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cua người lao động khi ho bị giảm hoặc mắt thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nan lao động, bệnh nghé nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Khái niệm BHXH theo Luật BHXH 2014 mang nghĩa hẹp chỉ gồm 05 trong 09 chế độ theo Công ước 102 (ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hưu trí, tử tuất). Bên cạnh đó, Việt Nam còn có chế độ chăm sóc y tế theo Luật BHYT 2008 sửa đổi, bố sung 2014 và BHTN theo quy định của Luật Việc làm 2013. Như vậy, hiện nay Việt Nam đang thực hiện 07 trong 09 chế độ theo Công ước 102. Theo quan điểm của người viết, khái niệm BHXH trong Luật BHXH 2014 nên được điều chỉnh lại bang cách quy định theo nghĩa rộng gồm cả chế độ chăm sóc y tế và chế độ thất nghiệp vì các chế độ về BHXH, BHYT, BHTN đều có chung mục đích nhằm ổn định đời sống cho NLD, bù đắp một phan thu nhập khi họ gặp các vẫn đề sức khỏe hay việc làm và cách điều chỉnh các chế độ an sinh xã hội trong cùng một văn bản pháp luật như vậy còn hướng đến việc đưa pháp luật Việt Nam tiệm cận hơn với pháp luật quốc tế.
Dù là quan điểm nào thì khái nệm BHXH đều bao gồm các nội dung sau: Một là, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội: Các đôi tượng tham gia BHXH là người đóng góp phí BHXH để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được hưởng BHXH. Bên tham gia BHXH là trước hết là NLĐ có thu nhập bằng sức lao động của chính mình. Ty lệ đóng góp BHXH của NLD sẽ được tính trên cơ sở mức lương của NLĐ và do Nhà nước tính toán, cân đối trong từng thời kỳ, có tính đến mức đóng góp của NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước cho quỹ BHXH. Đối tượng tham gia BHXH còn là NSDLĐ.
Đây 14 được xem là chủ thể tham gia đặc biệt của hình thức BHXH bởi họ không đóng quỹ cho mình hưởng mà chủ yếu đóng quỹ dé NLD của họ được hưởng. Hai là, chủ thể được hưởng bảo hiểm xã hội: Bên hưởng BHXH là những cá nhân được nhận tiền trợ cấp BHXH từ quỹ BHXH có thé là NLD hoặc nhân thân của NLD khi đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật. Tùy theo mục đích, tính chất của từng chế độ mà pháp luật có những quy định khác nhau về điều kiện hưởng, trong đó, thời gian đóng, tuổi đời, mức độ suy giảm khả năng lao động là những điều kiện chung nhất để xác định người được hưởng BHXH. Rõ ràng quyền hưởng BHXH của NLD chỉ có thé trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH bao gồm cả trách nhiệm đóng BHXH của NSDLD cho NLD.
Ba là, nguôn quỹ bảo hiểm xã hội: Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó, nguồn cơ bản và chủ yếu là sự đóng góp của các bên tham gia BHXH gồm NLD và NSDLD. Ngoài ra quỹ BHXH còn được hình thành từ những nguồn khác như: sự hỗ trợ của Nhà nước; thu lợi từ hoạt động đầu tư quỹ; tiền do co quan, tổ chức hỗ trợ; tiền phạt do cơ quan, đơn vị vi phạm pháp luật về BHXH quy định. Bốn là, các chế độ bảo hiểm xã hội: Pháp luật mỗi nước có những cách thức quy định vẻ chế độ BHXH không giống nhau nhưng thông thường đều gồm chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, hưu trí, tử tuất. Ví dụ khái niệm BHXH theo ILO mang nghĩa rộng, bao quát tất cả các chế độ của hệ thông an sinh xã hội trong khi khái niệm BHXH của Việt Nam mang nghĩa hẹp chỉ gồm 05 trong 09 chế độ theo Công ước số 102.
Như vậy, BHXH được hiểu là sự bảo đảm thay thế hoặc bù dap mot phan thu nhập đối với NLD khi ho gặp phải những rủi ro trong cuộc sống lam giảm sút hoặc mất đi khả năng lao động, mat việc làm, mat thu nhập trên co sở hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung có sự bảo hộ của Nhà nước nhằm đảm bảo cho đời sống thiết yêu của NLD và gia đình của họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội 15 - Vai trò của bảo hiểm xã hội: + Đối với người lao động: Theo phương thức BHXH, NLD khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng gop một phan tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng. Quỹ này hỗ trợ NLD khi 6m dau, tai nạn, lúc sinh đẻ, chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc hết tuổi lao động để duy trì và ôn định cuộc sống của NLD và gia đình họ. Do vậy, hoạt động đóng BHXH một mặt đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng NLD đối với bản thân minh, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “minh vì mọi người, mọi người vì minh” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyên lợi trong một thé chế chính trị - xã hội bền vững. Ngoài ra, việc đóng góp vào quỹ BHXH làm triệt tiêu đi nỗi lo ngại của NLD về bệnh tật, TNLĐ, BNN hay tuôi già,.
tạo nên tâm lý yên tâm cho họ đặc biệt là những NLD làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Đây còn là một đòn bay kinh tế kích thích NLD trong hoạt động lao động, sản xuất. + Đối với người sử dụng lao động: NSDLD cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho NLD. Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc này có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của họ.
Nhưng thực chat, về lâu dài, phương thức BHXH đã chuyên giao trách nhiệm bảo vệ NLD khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho NSDLĐ bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của mình, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh. Đối với nước ta, nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, NLD có mức thu nhập ở mức bình quân chung toàn xã hội là chủ yếu thì biện pháp điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết. Thực tế cho thấy, nhiều NSDLĐ đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản, hải sản, da giày, dệt may,. sử dụng nhiều lao động, nhất là các doanh nghiệp có nhiều 16 lao động nữ đều rất coi trọng chính sách BHXH để bảo vệ và duy trì nguồn lao động của doanh nghiệp mình.
Việc đóng góp vào quỹ BHXH giúp cho quan hệ lao động có tính nhân văn sâu sắc, nâng cao trách nhiệm xã hội của NSDLD. + Đối với Nhà nước và xã hội: Trên thị trường lao động, “tién lương là giá cả sức lao động” được hình thành tự phát căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông qua những quy định về mức lương tối thiêu và những điều kiện lao động cần thiết. Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa NSDLD va NLD là sự phân phối lần đầu va phân phối trực tiếp cho từng NLD. Do vậy, NLD có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhập cao.
Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng. Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiễn hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH. Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hon cho xã hội dé trợ giúp những người “yếu thé” hơn trong xã hội.