Chương 1 Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu gồm các nội dung: Lý do chọn đề tài, tác giả đã trình bày được sự quan trọng của chi ngân sách, kiểm soát chi đầu tư XDCB, chỉ được thành tựu của công tác KSC qua KBNN trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng bằng việc phát hiện và từ chối thanh toán với số tiền lớn giúp tránh thất thoát lãng phí nguồn tài chính của quốc gia. Tuy nhiên công tác KSC đầu tư XDCB cũng có những hạn chế, điển hình bị kiểm toán Nhà nước xuất toán với số tiền khá lớn trong năm 2018 và đây cũng là nguyên nhân để tác giả chọn nội dung “Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn tìm ra các giải pháp giúp hoàn thiện công tác KSC đầu tư XDCB qua KBNN trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Để thực hiện được nội dung nghiên cứu trên tác giả đã có mục tiêu nghiên cứu cụ thể; Câu hỏi nghiên cứu rõ ràng; Tác giả đã xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu thích hợp được chọn cho đề tài là phương pháp định lượng, số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS và phần mềm excel cho phần thống kê mô tả về thông tin cá nhân (giới tính, nhóm tuổi, thâm niên công tác); Bố cục nghiên cứu của đề tài là 5 chương. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số vấn đề cơ bản về chi đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài a. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nhằm từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế. Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách Nhà nước là nguồn vốn của ngân sách Nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài, bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho Chính phủ để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất.
Cụ thể đầu tư xây dựng cơ bản có các đặc điểm sau - Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định. - Đầu tư xây dựng cơ bản có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành một cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm, nhiều tháng với nhiều biến động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, chẳng hạn: giá cả, lạm phát, lãi suất,….
- Sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình. Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết,… của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Sản phẩm xây dựng cơ bản chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng. Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình.
- Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản có tính đơn chiếc. Mỗi hạng mục công trình, công trình có một thiết kế và dự toán riêng tùy thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, khí hậu, thời tiết,… của nơi đầu tư xây dựng công trình. Mục đích của đầu tư và các điều kiện trên quyết định đến qui hoạch, kiến trúc, qui mô 7 và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công,… và dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình, hạng mục công trình. Vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư.
- Đầu tư xây dựng cơ bản được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các lĩnh vực kinh tế - xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,…, nên sản phẩm xây dựng cơ bản có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng. Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. - Đầu tư xây dựng cơ bản thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng công trình. Quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thúc đẩy quá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công,…, nhằm giảm bớt lãng phí, thiệt hại về vật tư, tiền, vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình.
Những đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản nêu trên cho thấy tính đa dạng, phức tạp của đầu tư xây dựng cơ bản. Do đó, đòi hỏi cần phải có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư. Chính vì vậy, quản lý chi NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản cần phải có những nguyên tắc nhất định, biện pháp, trình tự quản lý, cấp phát vốn dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản. Khái niệm chi đầu tư xây dựng cơ bản Theo điều 4 luật ngân sách Nhà nước 2015 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015 “Chi đầu tư xây dựng cơ bản là nhiệm vụ chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.
Vai trò của chi đầu tư XDCB Mặt trái của cơ chế thị trường là các cá nhân, tổ chức kinh tế sẽ không đầu tư vào lĩnh vực không lợi nhuận hoặc lợi nhuận không cao, trong khi đó đầu tư XDCB lại rất cần thiết cho phát triển kinh tế và đảm bản an sinh xã hội. Vì vậy chỉ có chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư XDCB mới có thể thực hiện được vai trò quan trọng này. Về mặt kinh tế - Chi đầu tư XDCB góp phần tạo ra các nhà xưởng mới, thiết bị công nghệ, dây chuyền, sản xuất hiện đại hoặc mở rộng, cải tạo những nhà máy cũ. Từ đó tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Do đó, nâng cao hiệu quả sản xuất ở cơ sở góp phần phát triển kinh tế địa phương. 8 - Đầu tư nói chung và đầu tư cho XDCB nói riêng tác động đến tổng cầu và tổng cung của xã hội. Qua đó tác động đến sự ổn định, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế - xã hội. - Đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nền kinh tế.
Đầu tư làm cho tổng cầu tăng theo. Chính vì vậy mà chính phủ đã sử dụng đầu tư như là một trong những biện pháp kích cầu. Khi đầu tư có kết quả làm tăng năng lực sản xuất, dịch vụ sẽ làm tăng tổng cầu xã hội. Tổng cầu tăng, tổng cung sẽ tăng kéo theo sản lượng cân bằng của nền kinh tế tăng.
Do đó thúc đẩy GDP tăng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Chi NSNN cho đầu tư XDCB sẽ tạo ra hạ tầng kinh tế kỹ thuật như : điện, đường giao thông, sân bay, cảng biển,…, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm từ đó thu hút đầu tư thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế. - Về mặt chính trị, xã hội: Chi NSNN cho đầu tư XDCB tạo điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn như: đường giao thông tới miền núi, nông thôn, điện, trường học tạo điều kiện phát triển kinh tế ở các vùng này từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng ở địa phương; Đồng thời, chi đầu tư XDCB cũng tập trung vào các công trình văn hóa để duy trì truyền thống, văn hóa của địa phương, của quốc gia, đầu tư vào truyền thông (công trình xây dựng cơ bản trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình) nhằm thông tin những chính sách, đường lối của Nhà nước, tạo điều kiện ổn định chính trị của quốc gia, đầu tư XDCB trong lĩnh vực y tế góp phần chăm sóc sức khỏe của người dân và các dịch vụ công khác cho cộng đồng. - Về mặt an ninh, quốc phòng: Kinh tế ổn định và phát triển, các mặt chính trị – xã hội được cũng cố và tăng cường là điều kiện quan trọng cho ổn định an ninh, quốc phòng.