Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, kết cấu luận văn. Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên. Chƣơng 2: Thực trạng công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Phần kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1.1 Khái niệm về kết quả thực hiện công việc của nhân viên Theo Cumming và Schwab (1973): “Kết quả làm việc là cộng hƣởng của năng lực cá nhân và các yếu tố môi trƣờng có ảnh hƣởng nhất trong quá trình làm việc của nhân viên”.Niven (2002): “Kết quả thực hiện công việc là mức độ hoàn thành công việc của ngƣời lao động trong một giai đoạn nào đó”.
Theo Trần Kim Dung (2015): “Kết quả thực hiện công việc của cá nhân cán bộ nhân viên là khối lƣợng công việc đƣợc hoàn thành tƣơng ứng với chất lƣợng công việc và thời gian cụ thể”. Nhƣ vậy, kết quả thực hiện công việc thể hiện mức độ nhân viên hoàn thành nhiệm vụ dƣới sự tác động và ảnh hƣởng của cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên trong bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc của từng nhân viên. Các yếu tố bên ngoài bao gồm môi trƣờng làm việc và các cá nhân có thể gây ảnh hƣởng.
Mỗi nhân viên có năng lực, kỹ năng, nhận thức khác nhau và điều kiện làm việc khác nhau sẽ dẫn đến kết quả hoàn thành công việc khác nhau. Năm 1982, nghiên cứu của Richarch Boyatzit đã đƣa ra ba nhóm yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả thực hiện công việc của nhân viên bao gồm: - Năng lực cá nhân: Bao gồm các năng lực, kỹ năng, kiến thức nền tảng của nhân viên; kết hợp với tính cách, sở thích, động lực tạo nên đặc tính cơ bản của một cá nhân. - Yêu cầu công việc: Bao gồm các chức năng, nhiệm vụ, vai trò của nhân viên đƣợc tổ chức quy định. - Môi trƣờng tổ chức: Bao gồm tầm nhìn, sứ mạng của tổ chức, cấu trúc tổ chức, chiến lƣợc và chính sách phát triển, quy trình và các điều kiện hoạt động.
Nghiên cứu chỉ rõ, nếu một trong ba nhóm yếu tố không phù hợp và tƣơng thích với hai nhóm yếu tố còn lại thì kết quả công việc không đƣợc tối đa hóa. 6 Ngoài 3 yếu tố kể trên, nghiên cứu của Boyatzit (1982) và Vichita Vathanophas (2007) đã phát triển và bổ sung thêm một yếu tố vào mô hình là yếu tố đào tạo và phát triển. Yếu tố này tác động đến sự thỏa mãn và tạo động lực làm việc, giúp nhân viên hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Kết quả làm việc của nhân viên nên đƣợc xem xét trên cả hai khía cạnh là hiệu quả và hiệu suất công việc.
Trong đó, làm việc có hiệu quả (effectiveness) là làm đúng việc cần làm; làm việc có hiệu suất (efficiency) là hoàn thành công việc theo cách tốt nhất với thời gian và nguồn lực tối thiểu. Nhƣ vậy, kết quả thực hiện công việc liên quan đến số lƣợng công việc hoàn thành, chất lƣợng công việc, thời gian, chi phí, sự sáng tạo, khả năng sử dụng các nguồn lực một cách chính xác và trọn vẹn. Nhìn chung, nhân viên cần phát huy tối đa nội lực của bản thân và thích nghi với điều kiện môi trƣờng làm việc bên ngoài để đạt đƣợc kết quả thực hiện công việc cao nhất.2 Khái niệm về đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên 1.1 Khái niệm Đánh giá kết quả thực hiện công việc có liên quan đến sự phát triển của nhân viên và quản trị nhân sự hiệu quả (Kondrasuk, Crowell, Kilzer, & Teeley, 2008). Đánh giá kết quả thực hiện công việc là một trong những hoạt động thiết yếu đƣợc thực hiện nhằm tạo cơ sở cho các hoạt động khác trong công tác quản trị nguồn nhân lực.
Theo Yong (1996): “Đánh giá công việc là cách xếp loại nhân viên theo định kỳ, dựa trên nội dung và yêu cầu công việc của một vị trí nhất định”. Theo Alo (1999): “Đánh giá kết quả thực hiện công việc là một quá trình xem xét, xác định mức độ hoàn thành công việc mà một cá nhân hoặc tổ chức đã đạt đƣợc trong việc thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao, đáp ứng mục tiêu đã đƣợc đề ra trƣớc đó”. 7 Theo Glueck (1979) và Ivancevich (1998): “Đánh giá kết quả thực hiện công việc là hoạt động quản lý nguồn nhân lực, theo đó tổ chức xác định mức độ mà nhân viên thực hiện công việc một cách hiệu quả”. Theo Trần Kim Dung (2015): “Đánh giá kết quả thực hiện công việc là xác định mức độ hoàn thành công việc của tập thể hoặc cá nhân so với các tiêu chuẩn đã đề ra hoặc so sánh với kết quả công việc của tập thể, cá nhân khác cùng thực hiện công việc”.
Trƣớc tiên, đánh giá thực hiện công việc liên quan đến việc xây dựng mục tiêu đầu kỳ làm cơ sở đối chứng mức độ hoàn thành nhiệm vụ của nhân viên. Các mục tiêu xây dựng phải thống nhất, phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức và mục tiêu riêng của cá nhân. Thứ hai, đánh giá kết quả thực hiện công việc là quá trình đo lƣờng kết quả làm việc của nhân viên. Việc đo lƣờng đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng là theo chu kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm.
Các tiêu chuẩn đo lƣờng có thể là khối lƣợng công việc, chất lƣợng công việc, hành vi thực hiện công việc. Thứ ba, đánh giá kết quả thực hiện công việc liên quan đến việc so sánh kết quả công việc đã đạt đƣợc với mục tiêu đặt ra đầu kỳ. Quá trình này nhằm xác định nhân viên đã làm tốt công việc ở mức độ nào. Các khâu trong công tác đánh giá phải đƣợc xây dựng thành quy trình và có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Công tác đánh giá đƣợc thực hiện một cách chính thức, công khai và rộng rãi trong tổ chức. Ngoài ra, Arosson & Karol (1996) cho rằng, công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc là sự tƣơng tác đƣợc lên kế hoạch giữa ngƣời quản lý với ngƣời lao động nhằm mục đích đánh giá kết quả thực hiện công việc trong quá khứ của nhân viên và thảo luận về các khía cạnh có liên quan để thực hiện công việc trong tƣơng lai. Nhƣ vậy, ngoài khía cạnh xem xét các công việc đã hoàn thành, công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc còn mang tính định hƣớng và phát triển công việc cho nhân viên trong tƣơng lai.2 Lợi ích công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên Theo Coens và Jenkins (2000), đánh giá kết quả thực hiện công việc là một công cụ tốt để quản lý nhân sự và nâng cao hiệu quả công việc; nếu đƣợc thiết kế và thực hiện tốt có thể mang lại lợi ích cho cả nhân viên và tổ chức. * Đối với nhân viên Theo Rao (2004) và Selvarajan & Cloninger (2009), hoạt động đánh giá kết quả thực hiện công việc có thể mang lại các lợi ích chính: - Nâng cao chất lƣợng hoạt động của nhân viên: Quá trình đánh giá cung cấp các thông tin về tình hình thực hiện công việc giúp nhân viên nhận thức đƣợc ƣu điểm và nhƣợc điểm để có phƣơng hƣớng cải thiện bản thân giúp nâng cao năng suất làm việc.
- Tăng cƣờng động lực cho nhân viên: Quá trình đánh giá kết quả thực hiện công việc giúp tăng cƣờng mối quan hệ giữa nhân viên và nhà quản lý cấp trên. Thông qua đánh giá, nhân viên có thể khẳng định năng lực và giá trị trong tổ chức. - Liên hệ giữa phần thƣởng và kết quả thực hiện công việc: Công nhận năng lực của nhân viên thông qua các phần thƣởng xứng đáng là một yếu tố động viên, kích thích có hiệu quả. - Tạo sự công bằng giữa các nhân viên: Toàn bộ nhân viên đƣợc xem xét dựa trên hệ thống đánh giá bài bản giúp xác định nhân viên xuất sắc và nhân viên yếu kém một cách khách quan.
* Đối với tổ chức Zapata-Phelen và các cộng sự (2009) chỉ ra đánh giá KQTHCV giúp các nhà quản lý lựa chọn trả công lao động, đƣa ra các quyết định thăng tiến, đào tạo phát triển và động viên nhân viên. Nurse (2005) nhấn mạnh đánh giá KQTHCV đặc biệt giúp cung cấp thông tin cho nhà quản lý thực hiện các bƣớc tiếp theo về thăng tiến và phát triển nhân viên. Nhìn chung, công tác đánh giá KQTHCV của nhân viên giúp tổ chức đạt đƣợc hai lợi ích chính là: Thứ nhất, đánh giá KQTHCV là công cụ giúp phát triển đội ngũ nhân lực hiện tại và hoàn thiện các chính sách quản trị nguồn nhân lực hiệu quả. 9 Đánh giá KQTHCV là một hoạt động mang tính bắt buộc, giúp các nhà quản trị đảm bảo công việc đang đƣợc thực hiện bởi những nhân viên phù hợp.
Theo Rao (2004), thông qua đánh giá, nhà quản trị nắm bắt đƣợc năng lực của nhân viên, nhận biết những kỹ năng và thiếu sót để lên kế hoạch đào tạo lao động có hiệu quả. Đánh giá kết quả thực hiện công việc là cơ sở để lập kế hoạch nguồn nhân lực lâu dài: Quá trình đánh giá đƣợc thực hiện liên tục và thƣờng xuyên giúp nhà quản trị nhận biết đội ngũ nhân lực có đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc trong hiện tại và tƣơng lai hay không; từ đó có kế hoạch luân chuyển, đào tạo nâng cao, tuyển dụng thêm. nhằm đảm bảo nguồn nhân lực đầy đủ về số lƣợng và chất lƣợng để thực hiện các chiến lƣợc của tổ chức. Kết quả đánh giá nhân viên là cơ sở để nhà quản trị để thiết lập các chế độ lƣơng bổng, đãi ngộ.
Chế độ trả công lao động đƣợc xây dựng dựa trên kết quả đánh giá sẽ đảm bảo đƣợc tính chính xác, phù hợp và có thể kích thích, động viên nhân viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, cam kết lâu dài với tổ chức. Kết quả đánh giá nhân viên là một trong những tiêu chí quan trọng giúp nhà quản trị xem xét lại các chƣơng trình và chính sách về nguồn nhân lực đã thực hiện có phù hợp hay không, làm cơ sở điều chỉnh và phát triển trong tƣơng lai. Thứ hai, đánh giá KQTHCV giúp tạo lợi thế cạnh tranh cho tổ chức.