Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam bắt đầu từ công cuộc Đổi mới năm 1986 và đánh dấu bước chuyển toàn diện khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/01/2007. Đến năm 2021, Việt Nam đã ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương (như EVFTA, CPTPP, EAEU, ACFTA...), đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mốc 668,5 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu. Tuy nhiên, sự mở rộng của hoạt động giao thương cũng đi kèm với tình trạng buôn lậu (BL) và gian lận thương mại (GLTM) gia tăng về số lượng, mức độ tinh vi và tính chất phức tạp. Với đường biên giới đất liền trải dài tiếp giáp ba nước Trung Quốc, Lào và Campuchia, các đối tượng vi phạm đã lợi dụng sự thông thoáng của các chính sách ưu đãi thương mại, địa hình hiểm trở và kẽ hở quản lý để vận chuyển trái phép các mặt hàng từ hàng cấm (ma túy, pháo nổ) đến hàng tiêu dùng thiết yếu (đường cát, thuốc lá, đồ điện tử, thực phẩm, dược phẩm). Hoạt động này làm thất thu ngân sách nhà nước, tổn hại sức khỏe người tiêu dùng, làm suy giảm năng lực cạnh tranh của nền sản xuất nội địa và đe dọa trật tự an ninh vùng biên. Trong bối cảnh cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sau đại dịch Covid-19 và đẩy mạnh phục hồi kinh tế, việc kiểm soát và ngăn chặn BL&GLTM tại các cửa khẩu, đường mòn, lối mở trở thành nhiệm vụ cấp bách của các lực lượng chức năng theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thương mại biên giới, buôn lậu và gian lận thương mại trong lĩnh vực ngoại thương.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động BL&GLTM và công tác kiểm soát, xử lý của các cơ quan chức năng tại ba tuyến biên giới đất liền của Việt Nam trong giai đoạn 2019–2021.
  3. Nhận diện các điểm hạn chế, tồn tại và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống BL&GLTM tại khu vực biên giới trong giai đoạn tiếp theo.

Khóa luận giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Hoạt động phòng chống BL&GLTM tại khu vực biên giới Việt Nam đang diễn ra như thế nào?
  • Những giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống BL&GLTM tại khu vực biên giới Việt Nam là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và công tác phòng chống BL&GLTM của các cơ quan chức năng tại khu vực biên giới.
  • Phạm vi nội dung: Các hình thức, thủ đoạn vi phạm, số liệu xử lý các vụ việc vi phạm và chính sách quản lý nhà nước liên quan.
  • Phạm vi không gian: Khu vực biên giới đất liền Việt Nam, trọng tâm là ba tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, và Việt Nam - Campuchia.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu trong giai đoạn 2019 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và các văn bản pháp luật nền tảng:

  • Khái niệm thương mại biên giới: Căn cứ theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quyết định số 254/2006/QĐ-TTg ngày 07/11/2006 và Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Hoạt động này gồm bốn bộ phận: mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân; mua bán trao đổi của cư dân biên giới; mua bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu; và dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu, lối mở.
  • Khái niệm và phân loại buôn lậu: Dựa trên Từ điển tiếng Việt, Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2000. Đối tượng buôn lậu bao gồm hàng hóa, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật hoặc hàng cấm xuất nhập khẩu, được vận chuyển trái phép qua biên giới mà không khai báo, khai man, trốn tránh sự kiểm soát của hải quan và biên phòng.
  • Khái niệm và hình thức gian lận thương mại: Sử dụng định nghĩa của Luật Thương mại Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại quốc tế (UNCITRAL), Công ước Nairobi năm 1977 và định nghĩa sửa đổi của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) tại Hội nghị quốc tế lần thứ 5 vào tháng 10/1995. WCO xác định 16 hình thức GLTM phổ biến, tiêu biểu như: khai sai trị giá (Undervaluation - khai thấp để trốn thuế; Overvaluation - khai cao để hưởng hoàn thuế hoặc nâng vốn góp đầu tư), khai sai mã hàng, gian lận xuất xứ (C/O), lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, lợi dụng hàng quá cảnh/chuyển khẩu, làm giả chứng từ và kinh doanh công ty "ma".
  • Phân định mối quan hệ: GLTM là hoạt động thương mại xuất nhập khẩu công khai nhưng thiếu minh bạch nhằm trục lợi chính sách; trong khi BL là hành vi vận chuyển lén lút, không qua thủ tục hải quan hợp pháp.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Thu thập, hệ thống hóa các tài liệu lý luận, văn bản pháp luật và báo cáo tổng kết của cơ quan quản lý.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý dữ liệu định lượng về kim ngạch thương mại hai chiều và số vụ việc vi phạm bị bắt giữ, xử lý qua các năm (2019, 2020, 2021) trên từng tuyến biên giới.
  • Phương pháp quy nạp và logic: Từ các vụ việc thực tế tại các địa bàn trọng điểm (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, An Giang...) để khái quát bản chất thủ đoạn và đề xuất nhóm giải pháp tương ứng.

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ cơ sở dữ liệu Trade Map, Tổng cục Thống kê, Báo cáo tổng kết công tác định kỳ của Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, Ban Chỉ đạo 389 các tỉnh biên giới, Tổng cục Hải quan, Cục Quản lý thị trường, Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát kinh tế.
  • Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây về đấu tranh chống buôn lậu của Hoàng Anh Tuấn (2003), Nguyễn Công Trưởng (2009), Nguyễn Thị Thơm (2012), Vũ Thủy Trang (2018), Phạm Khánh Dư (2018), Lưu Thị Anh và Nguyễn Hữu Trinh (2020).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Lý luận chung về buôn lậu và gian lận thương mại tại khu vực biên giới

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học về thương mại biên giới, chỉ rõ vai trò của hoạt động này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số và củng cố thế trận quốc phòng - an ninh. Tác giả phân tích cụ thể các thủ đoạn BL điển hình: cất giấu hàng cấm trong hàng hóa thông thường, thành lập doanh nghiệp "ma" chưa có lịch sử rủi ro để được phân "luồng xanh" thông quan tự động, trộn lẫn hàng hóa có thuế suất cao với hàng thuế suất thấp (ví dụ: trộn than hàm lượng cao với than hàm lượng thấp), chia nhỏ hàng hóa để thuê cửu vạn gùi cõng qua đường mòn, sông suối, lợi dụng hình thức xuất khẩu ủy thác để phá niêm phong kẹp chì hải quan thay thế hàng lậu.

Nguyên nhân của hoạt động BL&GLTM được chia thành hai nhóm:

  • Nguyên nhân khách quan: Địa hình biên giới phức tạp; chênh lệch giá cả và năng lực sản xuất nội địa chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng; siêu lợi nhuận từ việc trốn thuế; hệ thống pháp luật còn kẽ hở và chức năng quản lý chồng chéo; công tác tuyên truyền chưa sâu; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật kiểm soát của lực lượng chức năng còn thiếu; đời sống cư dân biên giới khó khăn, dễ bị mua chuộc.
  • Nguyên nhân chủ quan: Công tác chỉ đạo thực thi có lúc thiếu nhất quán; năng lực chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; hiện tượng tiêu cực, bảo kê, tiếp tay cho buôn lậu; thủ tục hành chính hải quan còn rườm rà; tỷ lệ xử lý hình sự còn thấp, chủ yếu xử phạt hành chính nên chưa đủ sức răn đe; sự buông lỏng quản lý của một số cấp chính quyền địa phương coi buôn lậu là kế sinh nhai của cư dân.

Hậu quả của BL&GLTM được tác giả phân tích toàn diện trên bốn phương diện: gây thất thu ngân sách và triệt tiêu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa (kinh tế); tha hóa đạo đức cán bộ và gia tăng tệ nạn xã hội (văn hóa - xã hội); thách thức năng lực quản lý nhà nước và đe dọa chủ quyền lãnh thổ thông qua nguy cơ phụ thuộc kinh tế (chính trị - an ninh); và đe dọa tính mạng, sức khỏe người dân qua hàng giả, thực phẩm bẩn, thuốc men kém chất lượng (sức khỏe cộng đồng).

CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại tại khu vực biên giới Việt Nam

Chương 2 phân tích chi tiết thực trạng diễn biến giao thương và tình hình bắt giữ, xử lý vi phạm pháp luật thương mại trên ba tuyến biên giới đất liền trong giai đoạn 2019–2021:

Tuyến biên giới Tổng kim ngạch XNK 2019 (USD) Tổng kim ngạch XNK 2020 (USD) Tổng kim ngạch XNK 2021 (USD) Tổng số vụ BL&GLTM xử lý (2019–2021) Địa bàn và mặt hàng trọng điểm
Việt Nam - Trung Quốc 117,02 tỷ 133,076 tỷ 165,8 tỷ Hơn 40.000 vụ - Địa bàn: Lạng Sơn (Chi Ma, Tân Thanh, Hữu Nghị), Quảng Ninh (Móng Cái, sông Bắc Luân).
- Mặt hàng: Vải vóc, đồ điện tử, quần áo, phụ tùng xe, mỹ phẩm, vật tư nông nghiệp.
Việt - Lào 1,165 tỷ 1,025 tỷ 1,208 tỷ Nghệ An (hơn 18.000 vụ/3 năm) - Địa bàn: Nghệ An, Hà Tĩnh (Cửa Sót, Cầu Treo), Quảng Trị (Lao Bảo, sông Sê Pôn).
- Mặt hàng: Đường cát, rượu ngoại, pháo nổ, sườn lợn/thực phẩm bẩn, ma túy các loại.
Việt Nam - Campuchia 5,213 tỷ 5,400 tỷ 9,543 tỷ 60.255 vụ - Địa bàn: An Giang (Tịnh Biên, Vĩnh Xương, Khánh Bình), Chợ Gò Tà Mâu (Takeo).
- Mặt hàng: Đường cát Thái Lan, thuốc lá điếu, vàng nung chảy, thuốc bảo vệ thực vật.

Tại tuyến Việt - Trung, năm 2020 ghi nhận đỉnh điểm với 15.789 vụ vi phạm. Lạng Sơn là địa bàn phức tạp nhất năm 2021 với 5.347 vụ (tăng 10,6% so với 2020), phát sinh thủ đoạn gian lận qua sàn thương mại điện tử và dịch vụ chuyển phát nhanh bưu chính. Tại Quảng Ninh, năm 2021 xử lý 4.123 vụ với trị giá hàng hóa 37,8 tỷ đồng, khởi tố 47 vụ/69 đối tượng, xử phạt hành chính thuế nội địa trên 1.100 vụ, phạt hơn 92 tỷ đồng và truy thu thuế 284 tỷ đồng.

Tại tuyến Việt - Lào, Nghệ An là tâm điểm khi năm 2021 đã kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính 7.251 vụ (thu phạt gần 240 tỷ đồng), khởi tố hình sự 292 vụ/392 đối tượng. Tuyến biên giới này là điểm nóng về vận chuyển ma túy xuyên quốc gia: năm 2021 hai nước phối hợp tổ chức 255 đợt tuần tra, triệt phá 17 tụ điểm, 98 chuyên án, bắt giữ 4.768 đối tượng, thu giữ 496,91 kg heroin, 584 kg ma túy tổng hợp và 560.335 viên ma túy tổng hợp (tập trung dọc tuyến sông Sê Pôn dài 13km thuộc cửa khẩu Lao Bảo, Quảng Trị).

Tại tuyến Việt Nam - Campuchia, số vụ vi phạm cao nhất cả nước. An Giang là điểm nóng hàng đầu: năm 2021 xử lý 2.680 trường hợp (hành chính 2.568, hình sự 112 vụ/123 đối tượng), thu nộp ngân sách 179 tỷ đồng, tịch thu 2.107 bao thuốc lá, 35,6 tấn đường cát, 39 kg vàng, 1,56 tỷ đồng và 280.816 chai thuốc bảo vệ thực vật. Các đối tượng vận chuyển hàng lậu từ kho Chợ Gò Tà Mâu (Campuchia) qua đường mòn hoặc ghe xuồng 40-80 tấn trong mùa nước nổi; đồng thời lợi dụng loại hình hàng quá cảnh, tạm nhập tái xuất và thủ thuật "chọn luồng" (mở nhiều tờ khai hải quan cùng lúc tại nhiều chi cục, hủy tờ khai nếu bị phân luồng đỏ và chỉ thông quan tờ khai luồng xanh/vàng).

CHƯƠNG 3: Giải pháp nâng cao hoạt động phòng chống tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại tại khu vực biên giới Việt Nam

Chương 3 xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống BL&GLTM:

  • Nhóm giải pháp chuyên môn trực tiếp:
    • Nâng cao trình độ nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức cho cán bộ chuyên trách (Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Quản lý thị trường, Cảnh sát kinh tế), siết chặt kỷ luật công vụ để loại bỏ tình trạng bao che, tiếp tay.
    • Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa các lực lượng đóng quân trên địa bàn biên giới, khắc phục tình trạng chia cắt địa bàn và chồng chéo chức năng.
    • Hiện đại hóa mạng lưới thông tin liên lạc, ứng dụng hệ thống quản lý rủi ro và chia sẻ dữ liệu trinh sát phục vụ việc kiểm tra, soi chiếu từ xa.
    • Thiết lập cơ chế khen thưởng kịp thời, thỏa đáng đối với cán bộ lập chiến công và xử lý nghiêm minh các đường dây buôn lậu lớn cũng như cán bộ thoái hóa biến chất.
  • Nhóm kiến nghị đối với các cơ quan quản lý:
    • Đối với Chính phủ: Rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật nhằm xóa bỏ kẽ hở chính sách; tăng cường ngân sách đầu tư trang thiết bị công nghệ soi chiếu chuyên dụng tại cửa khẩu; ban hành chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho cư dân biên giới để triệt tiêu nguồn cung lao động vận chuyển lậu.
    • Đối với các Bộ, ngành liên quan: Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cần siết chặt quy trình kiểm tra sau thông quan, quản lý nghiêm ngặt hàng quá cảnh và tạm nhập tái xuất; Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tăng cường đấu tranh chuyên án triệt phá các trùm đầu nậu.
    • Đối với cộng đồng doanh nghiệp: Nâng cao trách nhiệm xã hội, chủ động đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, phối hợp với cơ quan chức năng truy vết hàng giả và tẩy chay hành vi tiếp tay cho gian lận thương mại.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về hoạt động thương mại song phương và tình hình vi phạm pháp luật trên ba tuyến biên giới đất liền của Việt Nam trong giai đoạn 2019–2021.
  • Tổng hợp số liệu định lượng xác thực phản ánh áp lực buôn lậu: xử lý hơn 40.000 vụ tại tuyến biên giới Việt - Trung và 60.255 vụ tại tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia; thu giữ khối lượng lớn ma túy tại tuyến Việt - Lào (hơn 1 tấn ma túy các loại và 560.335 viên ma túy tổng hợp năm 2021); xử lý hàng trăm tấn đường lậu và hàng vạn sản phẩm thuốc lá, mỹ phẩm, dược phẩm trôi nổi.
  • Vạch rõ các phương thức gian lận mới phát sinh trong thời đại số: gian lận xuất xứ thông qua chuyển khẩu nước thứ ba, lợi dụng quy trình phân luồng hải quan điện tử ("chọn luồng") và phân tán hàng nhập lậu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh, sàn thương mại điện tử.

Đóng góp của khóa luận so với các nghiên cứu trước:

  • Cập nhật số liệu thực chứng giai đoạn 2019–2021 gắn liền với bối cảnh đặc thù của đại dịch Covid-19 và hiệu lực của các FTA thế hệ mới, trong khi các công trình tiền nhiệm (như của Hoàng Anh Tuấn 2003, Nguyễn Công Trưởng 2009, Vũ Thủy Trang 2018) chỉ khảo sát dữ liệu giai đoạn trước 2018.
  • Mở rộng góc độ tiếp cận đa ngành và liên ngành, không giới hạn trong phạm vi nghiệp vụ hải quan hay một tỉnh cụ thể mà đánh giá tổng hợp trên cả ba tuyến biên giới đất liền với sự phối hợp của Hải quan, Biên phòng, Quản lý thị trường và Công an.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ báo cáo xử lý vi phạm của cơ quan chức năng, do đó chưa thể phản ánh và đo lường đầy đủ lượng "tội phạm ẩn" chưa bị phát hiện (theo các nghiên cứu tham chiếu, số vụ bị bắt giữ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lượng hàng buôn lậu thực tế). Ngoài ra, nghiên cứu chỉ tập trung vào biên giới đường bộ, chưa mở rộng sang tuyến đường biển và đường hàng không.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực trạng BL&GLTM trong giai đoạn mở cửa hoàn toàn sau đại dịch; nghiên cứu sâu các giải pháp công nghệ kỹ thuật số (như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong soi chiếu rủi ro) và các quy tắc xuất xứ hàng hóa (C/O) phức tạp trong các FTA thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, giảng viên và học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Hải quan, Luật kinh tế và Thương mại quốc tế.
  • Phần nội dung có giá trị ứng dụng: Bảng số liệu thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu và các vụ việc bắt giữ vi phạm giai đoạn 2019–2021; phần phân loại chi tiết các hình thức gian lận thương mại theo chuẩn WCO; các phân tích tình huống thực tế tại các điểm nóng (Móng Cái, Lao Bảo, sông Sê Pôn, Chợ Gò Tà Mâu, An Giang); và hệ thống kiến nghị quản lý đối với các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Câu hỏi thường gặp

1. Tuyến biên giới đất liền nào của Việt Nam có số vụ buôn lậu và gian lận thương mại bị xử lý nhiều nhất trong giai đoạn 2019–2021? Tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia là khu vực có số vụ vi phạm bị xử lý cao nhất trong ba tuyến biên giới đất liền, với tổng cộng 60.255 vụ việc được ghi nhận trong ba năm (20.284 vụ năm 2019; 20.269 vụ năm 2020; và 19.702 vụ năm 2021).

2. Thủ đoạn gian lận thương mại thông qua phương thức "chọn luồng" trong hải quan điện tử được thực hiện như thế nào? Doanh nghiệp mở cùng lúc nhiều tờ khai hải quan cho các lô hàng tại nhiều chi cục khác nhau. Khi hệ thống quản lý rủi ro phân luồng tờ khai, nếu lô hàng rơi vào "luồng đỏ" (phải kiểm tra thực tế hàng hóa và chứng từ), doanh nghiệp lập tức hủy tờ khai; nếu rơi vào "luồng xanh" (miễn kiểm tra) hoặc "luồng vàng" (chỉ kiểm tra hồ sơ), doanh nghiệp tiếp tục làm thủ tục thông quan để tuồn hàng lậu hoặc hàng khai sai thuế suất vào nội địa.

3. Tình hình buôn bán, vận chuyển ma túy tại tuyến biên giới Việt - Lào được ghi nhận với những số liệu cụ thể nào trong năm 2021? Năm 2021, lực lượng chức năng hai nước đã phối hợp tổ chức 255 đợt tuần tra song phương dọc 10 tỉnh biên giới, triệt phá 17 tụ điểm, tổ chức 98 chuyên án, bắt giữ 4.768 đối tượng, thu giữ 496,91 kg heroin, 584 kg ma túy tổng hợp và 560.335 viên ma túy tổng hợp (tập trung chủ yếu tại khu vực biên giới sông Sê Pôn thuộc cửa khẩu Lao Bảo, Quảng Trị).

4. Điểm nóng tập kết hàng lậu Chợ Gò Tà Mâu nằm ở đâu và phương thức tuồn hàng vào Việt Nam như thế nào? Chợ Gò Tà Mâu thuộc tỉnh Takeo (Campuchia), cách đường biên giới Việt Nam khoảng 3km. Đây là kho tập kết hàng hóa có xuất xứ từ Thái Lan, Trung Quốc (đường cát, thuốc lá, đồ điện tử, mỹ phẩm, rượu bia). Ban đêm, hàng hóa được chất lên xe máy vượt biên qua các đường mòn, lối mở hoặc vận chuyển bằng xuồng ghe 40–80 tấn vào mùa nước nổi để tuồn vào thị trường An Giang và các tỉnh lân cận.

5. Điểm khác biệt căn bản giữa hành vi buôn lậu và gian lận thương mại theo phân tích của tác giả là gì? Gian lận thương mại là hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra công khai nhưng không minh bạch, sử dụng thủ đoạn khai báo sai tên hàng, số lượng, trị giá hoặc xuất xứ để trốn thuế và hưởng ưu đãi chính sách. Ngược lại, buôn lậu là hành vi vận chuyển hàng hóa lén lút, bất hợp pháp qua biên giới nhằm trốn tránh hoàn toàn sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Hải quan và Biên phòng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Hồi đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về thương mại biên giới, buôn lậu và gian lận thương mại theo chuẩn mực quốc tế và pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực trạng sinh động với số liệu định lượng chi tiết trên ba tuyến biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và Việt Nam - Campuchia trong giai đoạn 2019–2021, chỉ rõ các phương thức vi phạm tinh vi tại các địa bàn trọng điểm. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ và các kiến nghị xác đáng nhằm hỗ trợ các cơ quan chức năng nâng cao hiệu quả kiểm soát buôn lậu, bảo vệ nguồn thu ngân sách và ổn định thị trường nội địa.