CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NHTPCPĐẠI CHÚNG VIỆT NAM 1. TONG QUAN VE HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về cho vay doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Tín dụng Trong hoạt động của Ngân hàng, tín dụng là một trong những hoạt động quan trọng, chiếm ty trọng lớn trong tông tài sản của NH cũng như mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, tuy nhiên chứa đựng nhiêu rủi ro tiêm ân. Khái niệm về Tín dụng được Tg.Nguyễn Văn Ngọc, ĐH KTQD đề cập đến trong cuốn “Tir điên Kinh tế hoc” như sau: “Tín dụng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, nhất là khoản vay ngắn hạn. cập tín dụng tức là tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các khoản chỉ tiêu của người khác dé doi lay một số tiền sẽ được hoàn trả trong tương lai.2 Khái niệm cho vay Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là một phần rất quan trọng.
Đây cũng là một hoạt động phổ biến và gần gũi với nhiều khách hàng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.Trong Giáo trình “Ngân hàng Thương mai” của trường ĐH KTQD: “Cho vay là việc ngân hang cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong khoảnng thời gian xác định” (Tr.3 Khái niệm về cho vay doanh nghiệp Cho vay là hoạt động hướng đến nhiều đối tượng trong xã hội, những người có nhu cầu về vốn phục vụ cho các mục đích khác nhau của mình. Tai“khoan 3 điều 2 TT39/2016/TT-NHNN” thì: “3. Khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng (sau đây gọi là khách hàng) là pháp nhân, cá nhân, bao gom: a) Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động họp pháp tại Việt Nam; b) Cá nhân có quốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài. ” Như vậy, cho vay doanh nghiệp là một phần nam trong hoạt động cho vay, hướng đến các chủ thể vay vốn là pháp nhân.
Đó là các Doanh nghiẹpmà được thành lập trong và ngoài nước có hoạt động hợp pháp tại nước ta, có nhu cầu sử dụng vốn tại TCTD phục vụ hoạt động kinh doanh của mình.2 Các hình thức cho vay doanh nghiệp Cho vay doanh nghiệp được thực hiện thông qua các phương thức đa dạng, được phân chia theo từng tiêu chí. Theo đó, phần lớn các nhà kinh tế thường phân chia cho vay nói chung và cho vay doanh nghiệp nói riêng theo các tiêu chí phân loại sau: e Căn cứ vào thời hạn cho vay + Cho vay ngắn hạn: thời gian vay vốn từ ngắn hơn 12tháng, phục vụ cho việc bố sung vốn lưu động phục vụ hoạt động SXKD của DN, đây là loại cho vay khá phổ biết dùng dé xây dựng hạn mức tín dụng cho khách hàng. + Cho vay trung đài hạn: thời gian vay lớn hơn 12, phục vụ cho việc đầu tư TSCĐ, thực hiện dự án, góp vốn đầu tư, những mục đích trong dài hạn khác của doanh nghiệp. e Căn cứ vào hình thức đảm bảo + Cho vay có tai sản đảm bảo: hình thức nay là việc cho vay mà TSDB thực tế sẽ là thứ dé đảm bảo cho khoản vay đó: BĐS, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, quyền tài sản, phần vốn góp.
đảm bảo cho toàn hoặc một phần khoản vay theo quy định của tổ chức. + Cho vay không có TSDB: hình thức này là việc cho vay dựa trên uy tín của người đi vay vốn, tình hình giao dịch trong quá khứ để thông qua đó mà người đi vay sẽ nhận được khoản cho vay mà không cần các biện pháp dé đảm bao. e Căn cứ theo hình thành khoản vay + Cho vay trực tiếp: NH trực tiếp cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên nhu cầu thực tế của khách hàng, đánh giá khách quan của ngân hàng và từ nguồn vốn trực tiếp của NH. + Cho vay gián tiêp, ngân hàng không trực tiêp câp vôn cho người sử dụng von mà cap von cho một tô chức nào đó đê cung cap cho đôi tượng trực tiép sử dụng vốn.
RRTD TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NHTM 1. Khái niệm RRTDtrong cho vay doanh nghiệp tạ NHTM 1.Khái RRTD trong Ngân hàng thương mại Trong quá trình tìm hiểu vềRRTD, các nhà nghiên cứu có đưa ra nhiều quan điểm về nó. Uy ban Basel đê cập: “Rui ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. ” Theo giáo trình “Ngân hàng thương mai” của trường ĐH KTQD, “Rui ro tín dụng đối với một khoản tín dụng là khả năng say ra ton thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không day du theo hợp dong tín dụng đã ký giữa ngân hang và khách hàng.” Nhìn chung, từ các quan điểm trên có thể khái quát được nội dung của rủi ro tín dụng chính là những tốn thất mà ngân hang gặp phải khi khách hàng không đủ khả năng hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng, làm cho việc thu hồi vốn và thanh toán của NHTM gặp phải nhiều khó khăn.
Khái RRTD trong trong cho vay doanh nghiệp tại NHTM. RRTDdéi với cho vayDN là một phần của rủi ro tín dụng, đi sâu vào hoạt động cho vayđối với khách hàng là tổ chức trong nền KT. Rủi ro trong CVDN chiếm thị phần rất lớn trong RRTD do tính chất các khoản vay của doanh nghiệp thường có giá trị lớn, thời hạn dai, tính chất phức tap,bitac động bởi nhiều van dé: hoạt động nội tại của doanh nghiệp, quy định trong nước, thông lệ quốc tế, những yéu tô khách quan về môi trường. Cấp tín dụng cho DN đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng, thâm định cụ thể khách hàng trước khi đưa ra quyết định để phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Đây là một nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu của mỗi NH từ đó có thể cải thiện được chất lượng và hiệu quả hoạt hoạt động của NH. Phân loại RRTD trong cho vay doanh nghiệp trong NHTM. RRTD nói chung và rủi ro tin dụng trong cho vay doanh nghiệp nói riêng đều được chia ra các hình thức theo các quan điểm khác nhau. Một vài quan điểm về việc phân loại RRTD trong CVDN như sau: - Theo phương diện quản lý - Theo biểu hiện của rủi ro - Theo đặc điểm nội tại của rủi ro 1.
Nguyên nhanRRTD trong cho vay doanh nghiệp trong NHTM. Về khách quan - Từ môi trường chính trị: Ở bất kỳ quốc gia nào,sự ôn định chính trị luôn là tiền đề cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, có thể thu hút nhiều nhà đầu tư, kêu gọi góp vốn đầu tư từ nước ngoài; tạo tâm lý yên tâm cho DN, mang lại hiệu quả cho hoạt động KD. Trái lại, nếu môi trường chính trị yếu kém,hay sảy ra nhiều van đề về quân sự, bạo loạn. thì việ ảnh hưởng đến HDKH là không thé tránh khỏi;việc lo lắng của doanh nghiệp, thiếu hụt vốn đầu tư dẫn đến hoạt động kém hiệu quả, từ đó việc trả nợ cho NH cũng trở nên khó khăn, phát sinh rủi ro tín dụng là điều tất yếu.Mặt khác, việc thay đổi về thé chế chính trị, chính sách điều hành, địa giới hành chính hay thay đổi bộ máy hoạt động cũng ảnh hưởng đến hoạt động NH và DN.
- Từ môi trường pháp lý: Hệ thống pháp luật là một yếu tố trọng yếu của các quốc gia. Toàn bộ các chủ thé trong một quốc gia đều phải tuân thủ và thực hiện theo hiến pháp và pháp luật. Do vậy, hệ thống pháp luật sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến DN. Nếu HTPL quy củ, chuẩn mực sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đây mạnh hoạt động, tác động tốt đến DN cũng như xã hội.
- Từ môi trường KT: Mỗi cá nhân, tổ chức đều là bộ phận cấu thành nên nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, vững mạnh sẽ thúc đây các chủ thé trong nền kinh tế cùng hoạt động hiệu quả. Trái lại, nếu nền kinh tếgặp phải trạng thái bất ôn, gặp khó khăn thì hoạt động của các thành viên trong đó cũng sẽ bị tác động theo hướng xấu đi. - Ti môi trường tự nhiên: Day là yếu tố khách quan, ít ai có thé dự đoán hay nắm bắt được nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động của các cá nhân và tô chức trong xã hội.Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, núi lửa, động đắt, Sóng 6 thần.
có thé xảy ra bat cứ lúc nào, không đợi con người phòng tránh hay dự đoán. Cũng chính vì yếu tô bất ngờ, nó luôn đem đến những tác động không hè nhỏ, gây tôn thất nặng nề cho nền kinh tế - cái mà bao hôm các hoạt động của các cá nhân, tô chức. - Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn tại Ngân hàng: + Năng lực, uy tín của khách hàng: việc cấp vốn cho các doanh nghiệp là việc NH trao cho doanh nghiệp quyền sử dụng TS dé doanh nghiệp phát triển, từ đó có thé có lợi nhuận,và có trách nhiệm thanh toán các nghĩa vụ đối với NH. Một DN có năng lực, khả năng tài chính lành mạnh, có bề dày hoạt động sẽ tạo được niềm tin hơn đối với các tổ chức tín dụng trong việc xem xét cho vay và cung cấp dịch vụ.
Căn cứ vào đó, các tổ chức tín dụng có thể đánh giá được khả năng thanh toán gốc lãi khoản vay của khách hàng, đánh giá năng lực hoạt động của khách hàng, đưa ra quyết định hợp lý và giảm thiểu được rủi ro. + Đạo đức của khách hàng: đây là yêu tố quan trọng trong quá trình đánh giá cấp tín dụng cho khách hàng. Có những trường hợp khách hàng có tư cách đạo đức không tốt, cố tình đưa thông tin sai, sử dụng vốn vay sai mục đích, có ý định lừa dối, dùng thủ đoạn nhăm chiếm đoạt vốn của NH, không thực hiện các nghĩa vụ đối với ngân hàng sẽ gây ra rủi ro không thu hồi được vốn cho NH. Với những trường hợp này sé gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ kinh doanh trong việc thẩm định, đưa ra đánh giá; làm giảm chất lượng của khoản vay, gây ra rủi ro cho ngân hàng.
Từ chủ quan - Chính sách, quy trình tín dụng + Chính sách tín dụng CSTD là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc cung cấp các sản phẩm tín dụng trong từng thời kỳ. Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng, có khi tập trung vào tăng trưởng quy mô, có khi lại đề cao chất lượng tín dụng.