Chương 1. Tổng quan về rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Thực trạng rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng Chương 3. Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội – Chi nhánh Đà Nẵng.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại NHTM. Khái niệm tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng. Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà sử học và kinh tế học trên thế giới, hoạt động vay mượn hay cho vay lấy lãi tồn tại trong khoảng thời gian 2000 – 1500 năm trước công nguyên.Thậm chí, hoạt động tín dụng xuất hiện trước sự ra đời của các ngân hàng.
Thuật ngữ “tín dụng” hay credit, kpegum. Xuất phát gốc từ La tinh creditium tức là sự tin tưởng, tín nhiệm, dựa vào sự tin tưởng tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định. Đứng trên giác độ kinh tế vĩ mô thì tín dụng là sự vận động vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu. Theo đó tín dụng bao gồm 3 nội dung: Người cho vay: chuyển giao cho người vay một lượng giá trị nhất định biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.
Người đi vay: sử dụng tạm thời tài sản trên trong một thời gian nhất định, hết thời gian thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả lại cho người vay. Giá trị được hoàn trả lại phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Phần chênh lệch đó có thể xem là lợi tức của người cho vay. Tại Việt Nam, luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 năm 2010 định nghĩa: tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Như vậy, trên cơ sở định nghĩa tín dụng nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng là cá nhân và hộ gia đình gọi chung là khách hàng cá nhân, vì vậy tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển quyền sử dụng một khoản tiền cho khách hàng cá nhân sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi với 5 mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.2 Hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng. Hoạt động tín dụng là phương thức tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Vốn tự có bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của ngân hàng nhà nước. Vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng.
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn ngân hàng có được từ việc nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức tín dụng khác hoặc ngân hàng phát hành các giấy tờ có giá như trái phiếu, kỳ phiếu. Hoặc ngân hàng vay từ các tổ chức tín dụng khác, từ ngân hàng nhà nước,. đồng thời ngân hàng phải chi trả một khoản chi phí nhất định gọi là tiền lãi huy động, cũng như phải hoàn trả vốn gốc cho khách hàng khi đến hạn. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Trong các nghiệp vụ này thì nghiệp vụ chính và chủ yếu mà các ngân hàng thương mại sử dụng hiện nay là nghiệp vụ cho vay. Đây chính là nghiệp vụ mà gắn liền với nó là rủi ro tín dụng thường phát sinh mà ngân hàng thương mại cần quan tâm và phải quản lý chặt chẽ. Hoạt động tín dụng cá nhân tại ngân hàng là sự lưu thông các nguồn vốn, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nới thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế giới cũng như ở thị trường Việt Nam.
Trong những năm gần đây, tín dụng cá nhân đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (khoảng 89 triệu người), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích. Hiện nay 6 xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn. Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng cá nhân của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm.
Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này. Vai trò của tín dụng cá nhân đối với hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng thương mại là các tổ chức kinh doanh tiền tệ, hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi và cho vay. Các hoạt động này đóng góp vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn vốn đến những người vay tiền có khả năng kinh doanh thu lợi, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hữu hiệu thông qua hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tín dụng ngân hàng là công cụ để ngân hàng điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông.Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, ngân hàng đã tạo nên cung tiền tệ. Đó chính là khả năng tạo tiền của ngân hàng. Một khoản tiền ban đầu khi gửi vào ngân hàng, sau khi trừ đi khối lượng dự trữ, sẽ được các ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng.
Sau đó, khoản tiền này lại quay trở lại ngân hàng một cách lặp đi lặp lại. Khối lượng tiền được gửi tại ngân hàng sẽ tăng lên so với số tiền gửi ban đầu. Vì thế, cung tiền trong nền kinh tế tăng lên. Tỷ lệ cấp tín dụng của ngân hàng so với khối lượng vốn huy động càng lớn thì mức cung tiền tệ hay khối lượng tiền tệ thực trong lưu thông càng lớn.
Do vậy, bằng các chính sách, ngân hàng nhà nước dễ dàng thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng cách điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng thương mại. Mặt khác, tín dụng ngân hàng góp phần tài trợ nguồn vốn sản xuất kinh doanh, mở rộng hoạt động sản xuất của khách hàng, qua đó góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển. Khi các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận lao động không nhỏ trong xã hội có công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, làm hạn chế các tệ nạn xã hội. Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
7 Hoạt động tín dụng cá nhân ngoài việc đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng còn có những vai trò quan trọng khác. - Góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng. Do có đối tượng khách hàng rất rộng nên việc phát triển tín dụng cá nhân sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp. Thông qua tín dụng cá nhân, ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng còn giúp ngân hàng thuận lợi trong bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành – thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử… Khả năng cung cấp gói sản phẩm dịch vụ tài chính cá nhân đồng bộ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo nét khác biệt cho ngân hàng trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng.
- Góp phần phân tán rủi ro cho ngân hàng. Nếu một ngân hàng chỉ tập trung cho vay các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, vì lý do nào đó mà hoạt động kinh doanh của các khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, với nguyên tắc tránh để tất cả trứng vào một rổ, các ngân hàng phát triển tín dụng cá nhân như một sự phân tán rủi ro vì với số lượng khách hàng cá nhân đông, số tiền vay ít thì khi có một khách hàng hoặc một số ít khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì ít gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại NHTM.
Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng: Theo Hiệp ước Basel, “Rủi ro tín dụng là rủi ro do tính không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đổi tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong họat 8 động cho vay của ngân hàng”. Theo Hennie van Greuning -Sonja B rajovic Bratanovic: “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”.
Theo Viện nghiên cứu khoa học ngân hàng (1998), “Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi hoặc gốc hay cả hai.