CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng Bất cứ một ngân hàng nào trong quá trình hoạt động cũng luôn gặp phải những yếu tố nằm ngoài dự tính có thể xuất phát từ nội bộ ngân hàng và cũng có thể do ảnh hưởng từ thị trường hay môi trường bên ngoài.
Những yếu tố đó xảy ra sẽ gây tổn thất cho ngân hàng về mặt tài chính, về khả năng thanh toán hay về uy tín của ngân hàng và đó chính là rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng được hiểu là tất cả những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, làm giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Phân loại rủi ro của ngân hàng Tài sản của NH chủ yếu là các tài sản tài chính (các khoản cho vay, các chứng khoán) với tính rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng rất cao. Công nghệ ngân hàng cho phép NH có thể chuyển nguồn tiền của mình đầu tư tới các vùng, các thị trường khác nhau ngày càng xa trụ sở chính.
Điều này một mặt cho phép NH giảm bớt rủi ro thông qua đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm và thị trường, song mặt khác cũng làm tăng tính rủi ro do tính biến động lớn trên thị trường thế giới và khu vực do thông tin sai lệch… Sau đây là một vài dẫn chứng về tổn thất trong hoạt động của NH: - Đầu những năm 1990, các Quỹ tín dụng ở Việt Nam sụp đổ hàng loạt gây ra tổn thất lớn cho những người gửi tiết kiệm. - Vào năm 1997, nhiều NHTM Việt Nam do mở rộng cho vay tràn lan đã rơi vào tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi cao. - Vào cuối năm 1997, khủng hoảng tài chính đã làm cho nhiều NH ở Châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản hoặc buộc phải sát nhập. Trong các trường hợp trên, các trung gian tài chính đều thất bại trong SV: Lê Thị Thùy Trang Page 1 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Vân khánh quản lý rủi ro. Rủi ro của NH có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau song đều có bản chất chung, đó là khả năng xảy ra những tổn thất mà NH phải gánh chịu. Phân chia rủi ro theo các loại tài sản gồm: RR trong quản lý và kinh doanh ngân quỹ, RR tín dụng, RR trong quản lý và kinh doanh chứng khoán, RR trong cho thuê và RR đối với các tài sản khác của NH. Phân chia rủi ro theo nguyên nhân gồm: RR do người vay không trả nợ cho NH; RR do lãi suất thay đổi; RR do tỷ giá thay đổi; RR do các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy, giấy tờ giả….
Sau đây là cách phân loại rủi ro phổ biến: a/ Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà NH phải chịu do KH vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản vay đó luôn hàm chứa rủi ro. Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung.
Do vậy, khi tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến, NH coi đó là một thành công trong quản lý. b/ Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính. Lãi suất ngân hàng thường xuyên biến động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn thất. RR lãi suất có liên quan chặt chẽ đến RR tín dụng.
c/Rủi ro thanh khoản: là khả năng xảy ra tổn thất cho NH khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến, làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho NH mất khả năng thanh toán. d/Các rủi ro khác: Rủi ro tỷ giá, RR tác nghiệp, RR môi trường… 1. Rủi ro tín dụng của NHTM 1. Bản chất của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn SV: Lê Thị Thùy Trang Page 2 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Vân khánh nhất của NHTM – hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tín dụng cụ thể, NH cố gắng phân tích các yếu tố của người đi vay sao cho độ an toàn đối với NH là cao nhất. NH chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra, khả năng hoàn trả tiền vay của KH có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân.
Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ NH, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, RRTD là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Vì thế, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả thì việc nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng là rất cần thiết và hữu ích.
RRTD có những đặc điểm cơ bản sau: - RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. RRTD xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất, thất bại trong quá trình sử dụng vốn. Nói cách khác, những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây ra RRTD của ngân hàng. - RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ.
- RRTD có tính tất yếu, tức là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Trong đó có thể kể đến SV: Lê Thị Thùy Trang Page 3 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Vân khánh những nguyên nhân như: a/ Môi trường kinh tế không ổn định và khó dự báo.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua, nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành ngân hàng. Sự khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực tuy không tác động trực tiếp nhưng ít nhiều cũng gây chao đảo hệ thống ngân hàng Việt Nam. Những điều chỉnh liên tục về lãi suất nhằm kích cầu trong những năm qua cũng gây thiệt hại không ít cho các ngân hàng thương mại.
Năm 2000 do những biến động về tỷ giá đã gây nên tình trạng đô la hoá, người ta đua nhau rút tiền gửi tiết kiệm mua ngoại tệ rồi gửi vào ngân hàng và đặc biệt là việc gửi ngoại tệ ra nước ngoài. Nền kinh tế khó khăn và sự sụt giảm nguồn vốn đầu tư nước ngoài dẫn đến giá bất động sản giảm, gây trở ngại cho ngân hàng trong việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi vốn vay. Do đó, bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng gây ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. b/ Môi trường pháp luật chưa chặt chẽ, không thống nhất.
Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng hiện nay, tuy đã được cải tiến nhiều nhưng vẫn chưa thực sự khoa học và thiếu đồng bộ, chưa đủ sức điều chỉnh những diễn biến phức tạp trong thực tế kinh doanh của NHTM. Nhiều hướng dẫn của các Bộ, Ngành khác nhau còn chồng chéo, rất khó khăn trong triển khai thực hiện. - Điều kiện vay vốn, đặc biệt đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải có tài sản thế chấp, trong khi đó chúng ta chưa có luật về sở hữu nên chưa có cơ quan nào có trách nhiệm cấp chứng nhận sở hữu tài sản và việc chuyển quyền sở hữu. Vì thế mà ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của chủ sở hữu tài sản.
Tín dụng thương mại đang rất phổ biến trong giao dịch nhưng các quy định về lưu thông thương phiếu chưa có, dẫn đến SV: Lê Thị Thùy Trang Page 4 Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Vân khánh tình trạng chiếm dụng vốn dây dưa, lừa đảo, trốn thuế…gây khó khăn trong việc kiểm soát. Hệ thống các văn bản quy định về đảm bảo tiền vay còn nhiều bất cập, mang tính áp đặt, chưa nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của ngân hàng và khách hàng vay vốn. Bên cạnh đó các cơ quan hữu quan chưa có được cái nhìn thấu đáo về ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ, nên chưa có được sự phối hợp đồng bộ, tích cực với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề liên quan.
Cho đến nay không ít người còn cho rằng việc cho vay và thu hồi nợ vay chỉ đơn thuần là việc của ngân hàng, trong khi trên thực tế có nhiều khoản vay ngân hàng đã thực hiện theo đúng mọi quy định của nhà nước mà vẫn không thu hồi được nợ. Lúc đó việc thu hồi nợ đã vượt ra khỏi chức năng và khả năng của ngân hàng. Mặc dù đã có nhiều thông tư liên tỉnh giữa ngân hàng nhà nước và các bộ ngành liên quan hướng dẫn thực hiện những vấn đề có liên quan đến hoạt động của ngân hàng, nhưng thực tế đòi hỏi phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan này với nhau trong thời gian tới.