Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận, tổng quan các nghiên cứu trước đây và phương pháp nghiên cứu. 5 Chương 3: Thực trạng và rủi ro trong cho vay tiêu dùng tại các chi nhánh Vietcombank khu vực Tây Nam Bộ. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro cho vay tiêu dùng tại các chi nhánh Vietcombank khu vực Tây Nam Bộ. Chương 5: Đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay tiêu dùng tại các chi nhánh Vietcombank khu vực Tây Nam Bộ 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày tổng hợp những tài liệu có liên quan đến rủi ro tín dụng nhằm làm cơ sở lý luận đề xuất mô hình nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.
Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một giá trị (tiền) trong một khoản thời gian nhất định, với những thỏa thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền, thời gian, lãi suất…) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn. Hay nói cách khác, các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng để giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống như nhà ở, đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại, xe cộ, giáo dục, y tế, du lịch… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để đáp ứng. Phân loại cho vay tiêu dùng Căn cứ vào mục đích vay: + Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.
+ Cho vay tiêu dùng không cư trú: là các khoản vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm, du lịch, phương tiện, học hành giải trí. Căn cứ hình thức cho vay: + Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng. Hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với KH. 7 + Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là hình thức cho vay mà khách hàng đến trao đổi trực tiếp với ngân hàng để tiến hành cho hoạt động vay hoặc thu nợ.
Căn cứ vào phương thức hoàn trả tiền vay: + Cho vay tiêu dùng trả góp: hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay vốn sẽ trả nợ (gốc + lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng đối với các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ để có thể thanh toán hết một lần số nợ vay. + Cho vay tiêu dùng phi trả góp: hình thức cho vay tiêu dùng trong đó tiền vay vốn sẽ được khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn cho ngân hàng. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc cho phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Ở phương thức cho vay này, thời gian tín dụng sẽ được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu cũng như thu nhập kiếm được từng thời kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay với một hạn mức tín dụng và được trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn. Căn cứ vào phương thức bảo đảm tiền vay: gồm cho vay tín chấp và cho vay có tài sản bảo đảm (cho vay cầm cố GTCG, cho vay có TSBĐ của chính người vay hoặc bên thứ ba, cho vay có TSBĐ hình thành từ vốn vay). Đặc điểm cho vay tiêu dùng Có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế: những biến động của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng.
Khi nền kinh tế tăng trường, người dân lạc quan về tương lai, nhu cầu về nâng cao đời sống vật chất, tinh thần tăng dẫn đến họ muốn thỏa mãn nhu cầu đó trong hiện tại, họ sẽ vay ngân hàng để thỏa mãn nhu cầu đó, vì vậy mà gia tăng các khoản cho vay tiêu dùng và ngược lại. Quy mô cho vay nhỏ nhưng số lượng món vay lớn: mục đích của khách hàng vay tiêu dùng chủ yếu để trang trải các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống như nhà ở, đồ 8 dùng gia đình, phương tiện đi lại, xe cộ, giáo dục, y tế, du lịch… vì vậy mà nhu cầu vốn thường không cao, ngoài ra do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao nên ngân hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm của khách hàng. Song nếu xét về nhu cầu vay tiêu dùng thì rất lớn do đối tượng của loại hình này là mọi cá nhân trong xã hội, từ người có thu nhập thấp đến cao với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay.
Do vậy nếu người vay gặp vấn đề về sức khỏe, mất việc hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ. đây là rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế được rủi ro thông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án. Ít co giãn với lãi suất: Thông thường vì giải quyết nhu cầu và số tiền vay không quá lớn nên người vay ít quan tâm đến lãi suất mà chủ yếu họ quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng tháng, thời gian được giải ngân do họ coi đây là công cụ để đạt được một cuộc sống thoải mái hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong tình trạng khẩn cấp hoặc để tạo ra lợi nhuận. Vì vậy, thường các khoản vay tiêu dùng với lãi suất cố định trong suốt kỳ hạn vay.
Chất lượng thông tin khách hàng cung cấp thường không cao: Thông tin tài chính của khách hàng và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ ràng như thông tin doanh nghiệp, dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng. Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránh, chây ì không trả nợ, vì vậy việc đánh giá tư cách của khách hàng rất quan trọng trong việc trả nợ. Rủi ro cao: do nguồn trả nợ không ổn định nên loại hình cho vay có rủi ro rất cao. Lãi suất cho vay cao: cho vay tiêu dùng thường có rủi ro cao hơn các loại hình cho vay khác, đồng thời chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay tiêu dùng thường cao hơn các loại hình cho vay khác do giá trị một món vay tiêu dùng nhỏ nhưng cán bộ tín dụng cũng phải thực hiện từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ khách hàng sau khi cho vay.
9 Nói tóm lại, các khoản cho vay tiêu dùng thường có chi phí và rủi ro cao, vì vậy ngân hàng thường ấn định mức lãi suất và phí suất cao tương ứng để đù đắp, ngoài ra do tâm lý người vay thường chỉ quan tâm đến số tiền phải trả hàng tháng hơn là lãi suất và luôn luôn đặt yếu tố thỏa mãn lên hàng đầu cho dù phải trả chi phí lớn. Do đó lợi nhuận đem lại từ loại hình cho vay này rất cao. Vai trò của cho vay tiêu dùng Đối với ngân hàng: Cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi hay các sản phẩm đi kèm khác cho ngân hàng. Mở rộng cho vay tiêu dùng tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh từ đó làm tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng cũng giúp đội ngũ nhân viên ngân hàng hoàn thiện kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng giao tiếp với khách hàng từ đó có thể làm tăng uy tín và hình ảnh của ngân hàng. Đối với người tiêu dùng: đặc biệt là những người có thu nhập trung bình thấp, thông qua nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng sẽ giúp cho họ có khả năng mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện đời sống. Đối với nền kinh tế: việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng có thể góp phần đáng kể trong chính sách kích cầu của Nhà nước, nó cũng giúp Nhà nước đạt được những mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định, chẳng hạn như tăng mức sống cho dân cư, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, tăng GDP hay tăng thu nhập bình quân đầu người… Đối với sản xuất kinh doanh, sự phát triển của cho vay tiêu dùng đồng nghĩa với việc tăng trưởng của cầu, tức là sức mua của người dân tăng lên, từ đó tạo nên sự sôi động cho thị trường hàng hoá tiêu dùng, tạo nguồn sống cho khu vực sản xuất trong nước, năng lực sản xuất của quốc gia sẽ được cải thiện rõ rệt, đồng thời tạo sức hút cho đầu tư nước ngoài. Cũng qua đó, Nhà nước đạt được mục tiêu kinh tế – xã hội là giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội.
Rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng là khi khách hàng cá nhân không trả được cả gốc và lãi đúng hạn hoặc bên cho vay chỉ thu được một phần gốc và lãi hoặc không thu được cả gốc và lãi của khoản vay đó như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.