mở đầu bằng việc xem xét hồ sơ xin vay và quyết định cho vay, sau đó là giải ngân, theo dõi các khoản tín dụng và kết thúc bằng việc thu nợ cả gốc và lãi hoặc ra những quyết định khác. Quy trình như sau : 1. K h á c h h à n g g ử i h ồ s ơ x i n v a y g ử i c h o n g â n h à n g Hồ sơ xin vay của khách hàng bao gồm: Đơn xin vay, hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân, và vốn điều lệ ban đầu, hồ sơ tình hình tài chính của doanh nghiệp, các tài liệu khác có liên quan đến dự án đầu tư xin vay vốn. Trên cơ sở các tài liệu khách hàng cung cấp và kết họp với thông tin thu thập được ngân hàng sẽ phân tích để đưa ra quyết định của mình [2, tr.
N g â n h à n g x é t d u y ệ t c h o v a y + Trước tiên ngân hàng kiêm tra các điêu kiện cho vay: Tư cách pháp nhan, tinh hình san xuat kinh doanh, tình hình dư nợ của doanh nghiêp mức vốn tham gia của đơn vị vay vốn, xem xét mục tiêu kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguôn cung câp nguyên vật liệu, nguồn nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng. + Thâm định dự án xỉn vay: Đây là một mắt xích quan trọng trong quá trình cho vay. Thực chất của quá trình này là dùng một số kỹ thuật phân tích đánh giá toàn bộ các vấn đề, các phương tiện được trình bày trong dự án theo một sô tiêu chuân kinh tế kỹ thuật và theo một trình tự hợp lý, chặt chẽ nhằm rút ra những kết luận chính xác về giá trị của dự án. Từ đó ngân hàng sẽ có quyết định cho vay đúng mức, phù họp với các dự tính của mình.
Muốn đạt được kết quả như mong muốn về thẩm định một dự án xin vay vốn thì phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu thập thông tin cân thiết cho việc đánh giá dự án xin vay vốn, xử lý thông tin bằng những phương pháp thẩm định thích họp và đi đến những kết luận cụ thể xác đáng được ghi trong tờ trình thẩm định dự án xin vay vốn [2, tr. X á c đ ịn h m ứ c c h o v a y Để xác định định mức tổng số tiền cho vay đối với một dự án, ngân hàng cho vay phải căn cứ vào các dự toán đầu tư, nhu cầu vay vốn của khách hàng, khả năng cung cấp vốn của ngân hàng, giá trị đảm bảo của tài sản cho vôn vay hoặc khả năng tài chính của bên bảo lãnh vốn vay. Tổng số tiền cho vay tối đa = Nhu cầu đầu tư - Các nguồn khác tham gia tài trợ [7, tr. K ý h ợ p đ ồ n g tín d ụ n g Họp đồng tín dụng là một văn bản được ký kết giữa ngân hàng với khách hàng, ghi nhận những thoả thuận giữa ngân hàng và người đi vay về 16 đổi tượng cho vay, điều kiện cho vay, hình thức cho vay, số tiền cho vay lãi suat cho vay, thơi hạn cho vay (bao gôm thời gian giải ngân, thời hạn trả nợ thời gian ân hạn), tài sản đảm bảo cho vốn vay, các hình thức trả nợ và các cam kết khác [2,tr.
G iả i n g â n Việc giải ngân phải được thực hiện theo tiến độ của dự án đầu tư của đơn vị vay vốn và phải căn cứ vào các nhu cầu chi trả thực tế và mức cho vay đa được thong báo. Việc giải ngân có thê được thực hiện bằng nhiều cách như: chuyển vào tài khoản các đơn vị thụ hưởng, bằng tiền mặt ngân phiếu cho chủ đầu tư, chuyển vào tài khoản của ban quản lý dự án. T h u n ợ Đây là khâu chiếm vị trí rất quan trọng. Dựa vào thời hạn đã thoả thuận, đơn vị vay vốn chủ động trả nợ khi đến hạn (trả cả gốc lẫn lãi).
Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp, các khoản nợ đã đến hạn nhưng khách hàng không trả được nợ, trong trường hợp này ngân hàng có thể tuỳ thuọc vao tinh hình thực te cua khách hàng đê đưa ra các cách giải quyết phù hợp. Nếu khách hàng có khó khăn nhưng do điều kiện khách quan, họ có cố gắng trả nợ thì có thể giãn nợ, gia hạn nợ, giảm lãi suất. giúp cho khách hang co the vượt qua khó khăn và trả nợ cho ngân hàng. Còn trong trường họp khách hàng cố ý dây dưa kéo dài không trả nợ, hoặc chủ ý lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng thì ngân hàng tìm mọi cách để thu nợ [2, tr.
R Ủ I R O T R O N G H O Ạ T Đ Ộ N G T ÍN D Ụ N G C Ủ A N G Â N H À N G THƯƠNG M ẠI 1. N h ậ n d iệ n r ủ i r o t r o n g h o ạ t đ ộ n g N g â n h à n g Không một loại hình doanh nghiệp nào mà không phải đối đầu với nguy cơ rui ro trong quá trình hoạt động kinh doanh. Nhưng với các đặc điểm đặc thù của ngân hàng thương mại có thể kết luận hoạt động kinh doanh trong 17 lĩnh vực tiền tệ —tín dụng của ngân hàng gặp phải nguy cơ rủi ro cao hơn cả. Khái quát các loại rủi ro của một ngân hàng thương mại như sau: 1.
R ủ i r o th a n h k h o ả n Theo Peter, s Rose thì thanh khoản được hiểu là khả năng ngân hàng đáp ứng các yêu cầu về vốn khả dụng của mình. Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền, rủi ro thanh khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản chính thành tiền một cách nhanh chóng mà không chịu tổn thất nào về giá cả. Hay nói một cách khác, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt [ 11, tr. R ủ i r o lã i s u ấ t Lãi suất là “chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian nào đó”.
Trong cơ chế thị trường, lãi suất của ngân hàng thương mại được hình thành trên cơ sở lãi suất thị trường nên luôn biến động. Hiện tượng này có thể gây ra tổn thất cho các ngân hàng thương mại. Chẳng hạn, khi ngân hàng đã kí một hợp đồng cho vay với một kì hạn lãi suất cố định nhưng sau đó lãi suất thị trường lại tăng lên hoặc khi ngân hàng đã nhận khoản tiền gửi với lãi suất cố định song lãi suất thị trường lại giảm xuống thì ngân hàng đều phải chịu rủi ro do các chênh lệch biển động lãi suất đó. Ngoài ra sự giảm sút giá trị đồng tiền trong thời gian cho vay sẽ dẫn đến tình trạng mặc dù lãi suất cho vay không thay đổi nhưng lãi suất thực tế sẽ giảm sút.
Giá trị thực tế vốn và lãi ngân hàng thu về thấp hơn so với vốn ban đầu bỏ ra. Rủi ro lãi suất càng làm cho kinh doanh ngân hàng bị thua lỗ [11, tr. R ủ i r o h ố i đ o á i Xuất phát từ định nghĩa “tỷ giá hối đoái là giá cả một đồng tiền tính ra một đồng tiền khác” nên tỷ giá cũng là một loại giá cả và cũng luôn biến động. HỌC VIỆN NGÂN HÀNG TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN So ,.
18 Rủi ro hôi đoái xảy ra khi tỷ giá hối đoái biến động, ngân hàng nắm giữ cac chứng khoán, các khoản vay mượn ngoại tệ, hoặc giữ ngoại tệ tiến mặt có thể gặp rủi ro khi tỷ giá biến động theo hướng bất lợi [11, tr. R ủ i r o tín d ụ n g Là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi [11, tr. Đây là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại nhiều nhất cho ngân hàng thương mại. Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại la hoạt động tín dụng đâu tư.
Thông thường đôi với các ngân hàng trên thế giới nó mang lại 2/3 phần thu nhập, còn ở Việt Nam là 90% thu nhập của ngân hàng thương mại. Tuy mang lại nhiều thu nhập nhưng trong lĩnh vực này nếu gặp rủi ro thì hậu quả lại rất lớn, nhiều khi dẫn đến một ngân hàng. “Các khoản tiền cho vay có xác suất vỡ nợ cao hơn các tài sản có khác nên ngân hàng thu được lợi tức cao nhất nhờ vào các món cho vay”. Bất cứ một rủi ro nào của người đi vay đều có thể đưa đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Vì vậy quản lý và ngăn ngừa rủi ro tín dụng là công việc khó khăn và phức tạp không chỉ là riêng trách nhiệm của cán bộ tín dụng. Muốn phòng ngừa và hạn chê rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các nganh, phải có những giải pháp đông bộ hữu hiệu cả về môi trường kinh tế cơ che nghiệp vụ, công tác tô chức, đào tạo cán bộ. và các nguyên tắc thực thi các giải pháp đó. R ủ i r o tồ n đ ọ n g v ố n Loại rủi ro này còn gọi là rủi ro do không hoàn trả nợ đúng hạn.
Khi thiêt lập môi quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoảng thời gian hoàn trả nợ. Tuy nhiên đến thời hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hôi được vôn vay, những tổn thất xảy ra trong trường họp này gọi là rủi ro tôn đọng vôn. Khi đó có thể dẫn tới đông cứng các khoản vốn, làm cho nó 19 kém lỏng, không cho vay và đầu tư được làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút [11, tr. Rủi ro khác Cac loại rủi ro khác là rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia gắn liền với các hoạt động đầu tư cũng như khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán, hoả hoạn.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thưo'ng mại 1.