Phần mở đầu. Chƣong 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hạn chế gủi ro tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng.
3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tín dụng ngân hàng: 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ngày nay tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Tín dụng ngân hàng: là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của bên cho vay trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sở hữu vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Theo luật các TCTD do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 , thì “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Tương tự các hình thức tín dụng khác, tín dụng NH được giao kết dựa trên các nguyên tắc là: bên vay vốn phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và tiền lãi sau một thời gian xác định đúng như các thỏa thuận với phía NH. Quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm 04 giai đoạn sau: + Giai đoạn xét duyệt cấp tín dụng: Đây là giai đoạn đầu của quá trình cấp tín dụng của ngân hàng. Trong giai đoạn này, ngân hàng nhận và kiểm tra hồ sơ của khách hàng, sau đó tiến hành thẩm định để ra quyết định về việc cấp hay không cấp tín dụng đối với khách hàng. + Giai đoạn phát tiền vay: Sau khi một khoản cấp tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng, Ngân hàng thực hiện việc giải ngân vốn cho khách hàng theo tiến độ thực hiện dự án hoặc đề nghị rút vốn vay của khách hàng trên cơ sở kiểm tra các căn cứ phát tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
+ Giai đoạn kiểm tra sử dụng vốn: 4 Ngân hàng xây dựng kế hoạch kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng bao gồm các nội dung: khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Tình trạng tài sản bảo đảm như thế nào? Khách hàng có thực hiện các cam kết trong hợp đồng tín dụng không? + Giai đoạn thu hồi nợ: Giai đoạn này được tiến hành song song với quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay của khách hàng. Ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ nguồn thu của khách hàng để thu hồi nợ cũng như theo dõi chặt chẽ việc trả nợ của khách hàng để kịp thời phát hiện và xử lý các khoản nợ có dấu hiệu không trả đúng hạn hoặc không thu hồi được.2 Bản chất của tín dụng Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau : - Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản); - Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn; - Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc; - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.3 Vai trò của tín dụng - Một là cung ứng vốn cho nền kinh tế: Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu và còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các tổ chức kinh tế. Nó là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư. - Hai là thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá: Tín dụng thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, phát triển sản xuất.
Đây là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, tạo ra nhiều cơ hội, việc làm, thu hút nhiều lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. - Ba là góp phần kiềm chế lạm phát: Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá, làm giảm áp lực lạm phát. - Bốn là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập. Đất nước ta đã tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây là cơ hội và cũng là thách thức to lớn đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng Việt Nam nói riêng. Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng, một công cụ của Chính sách tiền tệ quốc gia ngày càng trở nên quan trọng để giúp nhà nước thực hiện được mục tiêu của mình. 5 Do đó, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp để đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, quy trình quản lý mới, tiên tiến sẽ rất lớn thì mới có thể đứng vững trong cạnh tranh. Trong khi thị trường chứng khoán của nước ta hiện nay chưa thực sự phát triển ổn định, không thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho các tổ chức kinh tế.
Vì vậy, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ yếu, gần như duy nhất cho các doanh nghiệp để đổi mới, phát triển.4 Chức năng và nguyên tắc của tín dụng - Chức năng: Tập trung và phân phối lại tài nguyên theo nguyên tắc có hoàn trả; tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông; phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế. - Nguyên tắc: Vốn vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi; Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; Vốn vay phải đảm bảo giá trị vật tư hàng hóa tương đương.5 Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng của ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính hoặc các nghiệp vụ tài trợ vốn khác của ngân hàng cho khách hàng theo nguyên tắc thỏa thuận và có hoàn trả. Theo Luật các Tổ chức tín dụng thì: - Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng; - Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận cho khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác; - Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.6 Phân loại tín dụng ngân hàng Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: * Căn cứ vào thời hạn tín dụng : Phân chia theo thời gian có 3 loại : - Tín dụng ngắn hạn: có thời gian cho vay đến 12 tháng, chủ yếu đươc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
6 - Tín dụng trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: trên 60 tháng, thường để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. * Căn cứ vào hình thức tín dụng : Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác, trong đó : - Cho vay: ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền với mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất trong hoạt động tín dụng hiện nay của ngân hàng.
Bao gồm các loại sau : + Thấu chi: là việc ngân hàng cho phép người vay được chi vượt số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. + Cho vay từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng đối với các khách hàng ít có nhu cầu vay thường xuyên. + Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. + Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng. + Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức bằng văn bản với Bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với Bên nhận bảo lãnh.