Tổng quan nghiên cứu

Tỷ lệ nghèo đói tại các huyện vùng cao biên giới luôn là thách thức lớn đối với tiến trình phát triển kinh tế bền vững. Tại tỉnh Cao Bằng, địa phương có tới 139 trên tổng số 199 xã thuộc khu vực III đặc biệt khó khăn với hơn 95% đồng bào là người dân tộc thiểu số, huyện Bảo Lâm nổi lên là một trong những vùng trũng về thu nhập và an sinh xã hội. Số liệu thống kê giai đoạn 2018 - 2020 ghi nhận thực trạng đáng quan tâm: hết năm 2018 tỷ lệ hộ nghèo của huyện ở mức 45,99%, và đến tháng 1 năm 2020 toàn huyện vẫn còn 4.937 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 40,08%) cùng 3.394 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 27,55%).

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Vương Quang Thiên với đề tài nghiên cứu về giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Quyền Đình Hà tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã đi sâu giải quyết bài toán cấp thiết này. Đề tài tập trung phân tích thực trạng giảm nghèo giai đoạn 2017 - 2019, nhận diện toàn diện các yếu tố cản trở nội sinh và ngoại sinh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng đến năm 2025.

Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc cung cấp luận cứ thực tiễn để huyện Bảo Lâm hiện thực hóa mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 3,0% mỗi năm theo định hướng của tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu tạo tiền đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho hơn 61.156 người dân thuộc 9 dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn 13 xã và 01 thị trấn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương đạt mức bình quân 10,51%/năm một cách thực chất và ổn định.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Khung sinh kế bền vững kết hợp với Lý thuyết giảm nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Khung phân tích sinh kế đánh giá 5 nguồn vốn cốt lõi của hộ gia đình bao gồm: vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng lao động, thể trạng sức khỏe), vốn tài chính (thu nhập thực tế, tiền tích lũy, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng), vốn tự nhiên (đất sản xuất nông nghiệp, tài nguyên rừng, nguồn nước), vốn vật chất (nhà ở kiên cố, tư liệu sản xuất, công trình hạ tầng kỹ thuật) và vốn xã hội (mối quan hệ dòng tộc, sự hỗ trợ từ các hội đoàn thể).

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình bốn trụ cột đảm bảo giảm nghèo bền vững do tác giả Bùi Xuân Dự khởi xướng, bao gồm: nội lực sinh kế của người dân, năng lực điều hành của chính quyền địa phương, tính an toàn phòng ngừa rủi ro, và mức độ đáp ứng các dịch vụ công cơ bản. Các khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa gồm nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh, thông tin) và giảm nghèo bền vững – trạng thái hộ dân vượt qua chuẩn nghèo và duy trì mức sống ổn định ngay cả khi đối mặt với các biến cố tự nhiên hay rủi ro kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực hiện trong mốc thời gian từ tháng 5 năm 2019 đến tháng 01 năm 2020. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2017 - 2019 của Ủy ban nhân dân huyện Bảo Lâm, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng niên giám thống kê huyện.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tổ có chủ đích tại 2 xã vùng cao có tỷ lệ nghèo cao điển hình là xã Mông Ân và xã Đức Hạnh. Cỡ mẫu điều tra trực tiếp gồm 120 hộ gia đình, được phân tổ khoa học thành: 40 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo, 20 hộ thoát nghèo và 40 hộ khá giàu. Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu và đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) với 20 cán bộ chuyên trách công tác giảm nghèo cấp huyện và cấp xã.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả (tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tốc độ tăng trưởng liên hoàn) kết hợp phân tích so sánh và ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) trên phần mềm Excel là nhằm lượng hóa chính xác mức độ phân hóa thu nhập, diện tích đất đai và các chiều thiếu hụt an sinh giữa các nhóm hộ, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo chưa thực sự đi đôi với tính bền vững và tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo rất lớn. Mặc dù số hộ nghèo đã giảm 654 hộ (từ mức 45,99% năm 2018 xuống còn 40,08% với 4.937 hộ vào đầu năm 2020), nhưng số hộ cận nghèo lại tăng thêm 597 hộ, lên mức 3.394 hộ (chiếm tỷ lệ 27,55%). Điều này chỉ ra rằng phần lớn hộ gia đình mới chỉ vừa bước qua ranh giới nghèo đói và rất dễ tái nghèo khi gặp rủi ro thiên tai hoặc biến động thị trường.

Thứ hai, nguồn lực sinh kế về đất đai và hạ tầng thủy lợi còn nhiều bất cập. Đất nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 89,80% diện tích tự nhiên (tương đương 81.944,9 ha), bình quân đạt 1,60 ha/người (cao hơn mức bình quân cả nước là 1,31 ha/người). Tuy nhiên, do địa hình đồi núi đá hiểm trở bị chia cắt sâu, toàn huyện có trên 300 công trình thủy lợi nhỏ nhưng chỉ có 71 công trình được kiên cố hóa, năng lực tưới chủ động chỉ đáp ứng được 26% diện tích đất nông nghiệp, 74% diện tích còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời. Hơn nữa, toàn huyện còn 107 xóm gặp khó khăn nghiêm trọng về nước sinh hoạt với trên 2.000 hộ cần được hỗ trợ xây dựng bể chứa nước phân tán.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực tham gia thị trường của người nghèo còn ở mức thấp. Lực lượng lao động trong ngành nông lâm nghiệp chiếm tới 94,6% (31.991 người trên tổng số 33.817 lao động đang làm việc), trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của huyện chỉ đạt khoảng 12,0% (tương đương 2.254 người). Mạng lưới giao thông liên kết vùng còn hạn chế khi chỉ có 4 trên 14 xã có đường nhựa đến trung tâm, 97km đường liên xã thuộc loại đường cấp phối đã xuống cấp và 6 cầu treo bắc qua sông Gâm có tải trọng rất yếu, gây cản trở lớn đến việc vận chuyển nông sản và giao thương hàng hóa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nghèo đói dai dẳng tại Bảo Lâm bắt nguồn từ sự cộng hưởng của các yếu tố địa lý tự nhiên khắc nghiệt và rào cản xã hội. Với địa hình có độ cao trung bình 800m so với mặt nước biển, khí hậu mùa đông thường xuyên xuất hiện rét hại dưới 5 độ C kèm sương muối, người dân dễ rơi vào cảnh mất trắng tài sản cây trồng và vật nuôi. Về mặt tâm lý xã hội, hơn 80% hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số (trong đó người Mông chiếm gần 50% dân số toàn huyện) vẫn duy trì tập quán sản xuất tự cung tự cấp, còn mang nặng tâm lý sợ vay vốn ngân hàng vì lo không trả được nợ, hoặc có tư tưởng trông chờ vào chính sách bảo trợ của Nhà nước.

So sánh với bài học kinh nghiệm quốc tế như mô hình "Làng mới" (Saemaul Undong) của Hàn Quốc trong việc khơi dậy tinh thần tự lực cộng đồng, hay kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ lúa sang vải thiều của huyện Lục Ngạn (tỉnh Bắc Giang) giúp giảm tỷ lệ nghèo từ 17,0% xuống 9,0% giai đoạn 2010 - 2015, có thể thấy huyện Bảo Lâm chưa khai thác triệt để thế mạnh kinh tế đồi rừng và chăn nuôi đại gia súc.

Về mặt học thuật, các dữ liệu khảo sát trong luận văn có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng mô tả sự dịch chuyển giữa nhóm hộ nghèo và hộ cận nghèo qua các năm tại 2 xã Mông Ân và Đức Hạnh, kết hợp bảng thống kê tương quan đa biến để chỉ rõ mối liên hệ giữa trình độ học vấn của chủ hộ với mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông và thủy lợi phục vụ sản xuất: Ủy ban nhân dân huyện Bảo Lâm phối hợp cùng Sở Giao thông Vận tải và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng tập trung lồng ghép vốn từ Chương trình 135 và Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP để kiên cố hóa thêm ít nhất 50 công trình thủy lợi nhỏ. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ diện tích đất canh tác được cấp nước chủ động từ 26% hiện nay lên trên 45% vào năm 2025, đồng thời nhựa hóa 97km đường giao thông nông thôn loại B và cải tạo 6 cầu treo qua sông Gâm nhằm đảm bảo tải trọng vận tải hàng hóa.

Thứ hai, phát triển mô hình sinh kế chăn nuôi đại gia súc gắn với đào tạo nghề: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện chủ trì phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tổ chức các lớp chuyển giao kỹ thuật vỗ béo bò thịt và trồng cỏ voi. Chỉ tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo từ 12,0% lên mức 25,0% vào năm 2025, phát huy tối đa tổng đàn gia súc 84.188 con của huyện để hình thành các chuỗi cung ứng thịt bò chất lượng cao ra thị trường.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới tín dụng ưu đãi và chính sách phòng ngừa rủi ro: Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bảo Lâm cần đơn giản hóa quy trình vay vốn, cam kết giải ngân vốn vay ưu đãi đến 100% hộ nghèo và hộ cận nghèo có phương án sản xuất khả thi trước năm 2024. Đồng thời, địa phương cần triển khai thí điểm chính sách bảo hiểm nông nghiệp đối với đàn bò và cây hồi, quế để bảo vệ tài sản sinh kế của người dân trước các đợt thiên tai, dịch bệnh.

Thứ tư, đổi mới công tác tuyên truyền khơi dậy ý chí tự lực vươn lên của người dân: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã đẩy mạnh tuyên truyền xóa bỏ tâm lý ỷ lại vào trợ cấp, biểu dương kịp thời các tấm gương hộ nghèo tự nguyện viết đơn xin ra khỏi danh sách hộ nghèo. Biện pháp này hướng tới mục tiêu hoàn thành chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ 3,0% trở lên mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và công chức làm công tác giảm nghèo cấp huyện, xã: Luận văn cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về 4.937 hộ nghèo và 3.394 hộ cận nghèo tại Bảo Lâm, đóng vai trò là tài liệu tham mưu trực tiếp để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn: Đề tài là nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp luận kết hợp khung sinh kế bền vững với bộ công cụ chuẩn nghèo đa chiều, hỗ trợ thiết kế các nghiên cứu thực địa với quy mô mẫu 120 hộ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và các ban quản lý chương trình phát triển cộng đồng: Dữ liệu phân tích thực trạng 107 xóm thiếu nước sinh hoạt và 10 trên 14 trạm y tế xã xuống cấp giúp các tổ chức quốc tế định hình chính xác các dự án tài trợ về cấp nước sạch, y tế lưu động và xây dựng năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ tư, các doanh nghiệp và hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp: Luận văn mở ra góc nhìn thực tế về tiềm năng 81.944,9 ha đất nông lâm nghiệp và đàn gia súc 84.188 con, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng các dự án liên kết chuỗi giá trị chế biến dược liệu (sa nhân, hà thủ ô, ba kích) và chăn nuôi bò thương phẩm tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Bảo Lâm vẫn ở mức cao 40,08% vào đầu năm 2020 là gì? Tỷ lệ hộ nghèo còn cao (4.937 hộ) chủ yếu do địa hình núi cao hiểm trở với độ cao trung bình 800m gây chia cắt giao thông, sản xuất nông nghiệp lạc hậu với 74% diện tích phụ thuộc vào nước mưa, cơ sở hạ tầng yếu kém và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề mới chỉ đạt khoảng 12,0%.

Việc áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều mang lại lợi ích gì cho công tác quản lý tại huyện Bảo Lâm? Chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg giúp địa phương xác định chính xác 5 dịch vụ xã hội cơ bản bị thiếu hụt, từ đó nhận diện rõ các điểm nghẽn an sinh như 107 xóm thiếu nước sinh hoạt hay 10/14 trạm y tế xã chưa đạt chuẩn để bố trí nguồn vốn can thiệp đúng mục tiêu.

Tiềm năng kinh tế nổi bật nào có thể giúp huyện Bảo Lâm tạo đột phá trong giảm nghèo bền vững? Bảo Lâm có lợi thế lớn với 81.944,9 ha đất nông lâm nghiệp và tổng đàn gia súc đạt 84.188 con vào năm 2018. Khai thác chăn nuôi bò thịt hàng hóa kết hợp phát triển kinh tế đồi rừng và trồng cây dược liệu dưới tán rừng chính là hướng đi mũi nhọn giúp nâng cao thu nhập ổn định cho người dân.

Tại sao số hộ cận nghèo tại huyện Bảo Lâm lại tăng thêm 597 hộ trong năm 2019? Số hộ cận nghèo tăng lên 3.394 hộ (chiếm 27,55%) do 654 hộ mới thoát nghèo có mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo và thiếu hụt các chỉ số an sinh cơ bản. Nhóm hộ này có năng lực chống chịu rủi ro rất thấp và đứng trước nguy cơ tái nghèo cao khi gặp rét đậm dưới 5 độ C hoặc thiên tai lũ quét.

Chính quyền địa phương cần làm gì để hỗ trợ người nghèo giải tỏa tâm lý e ngại vay vốn ngân hàng? Ủy ban nhân dân cấp xã và các hội đoàn thể cần phối hợp cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội hướng dẫn người dân lập phương án sản xuất cụ thể, cử cán bộ khuyến nông trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho 100% hộ vay vốn, đồng thời xây dựng chuỗi bao tiêu đầu ra để người nghèo an tâm mở rộng quy mô.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh giảm nghèo tại huyện Bảo Lâm với số hộ nghèo giảm xuống 40,08% (4.937 hộ) nhưng tỷ lệ hộ cận nghèo vẫn ở mức cao 27,55% (3.394 hộ), khẳng định tính cấp bách của các giải pháp chống tái nghèo.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các rào cản hạ tầng then chốt khi hệ thống thủy lợi mới chủ động tưới tiêu cho 26% diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 12,0%.
  • Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ gồm: kiên cố hóa 50 công trình thủy lợi, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 25,0%, phát huy tổng đàn gia súc 84.188 con và mở rộng độ bao phủ của tín dụng chính sách gắn với bảo hiểm nông nghiệp.
  • Lộ trình thực thi giải pháp được định hướng xuyên suốt đến năm 2025, gắn liền với chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 3,0%/năm của tỉnh Cao Bằng và lồng ghép chặt chẽ vào các Chương trình mục tiêu quốc gia.
  • Cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể huyện Bảo Lâm cần khẩn trương quán triệt các giải pháp của luận văn vào thực tiễn quản lý, khơi dậy nội lực tự vươn lên của đồng bào các dân tộc nhằm đạt mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững.