CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm khiếu nại Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân, được quy định tại Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào” và được quy định tại Điều 30 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá”.
Theo khoản 1, Điều 2 Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005) quy định: "Khiếu nại" là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo khoản 1, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước Luan van 5 hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khiếu nại là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.
Khái niệm tố cáo Theo khoản 1, Điều 2 Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005) quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Theo khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Khiếu nại năm 2011 quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước vững về chính trị, giỏi về chuyên môn để “trí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ của Nhà nước. Từ năm 2019, chúng ta áp dụng Luật Tố cáo 2018 Về khái niệm tố cáo thì tại Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo 2018 có quy định cụ thể như sau: Luan van 6 Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật Tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: - Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; - Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Tranh chấp Hiện nay, pháp luật chưa có một khái niệm rõ ràng về tranh chấp dân sự. Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ. Các loại tranh chấp dân sự phổ biến hiện nay là: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các vấn đề về ly hôn,… 1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai *.
Khái niệm khiếu nại về đất đai “Khiếu nại về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích của mình do những quyết định hành chính hoặc những hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai gây ra” Những quyết định hành chính về đất đai có thể bị khiếu nại đó là: - Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; - Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư. - Cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất. Khái niệm về tố cáo đất đai Tố cáo về đất đai là việc công dân báo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức Những hành vi vi phạm pháp luật đất đai có thể bị tố cáo như: - Huỷ hoại đất bằng các chất thải độc hại - Sử dụng đất sai mục đích - Lấn chiếm đất đai - Chuyển quyền sử dụng đất sai nguyên tắc, giao đất không đúng thẩm quyền.
- Cản trở việc sử dụng đất của người liền kề *. Khái niệm về tranh chấp đất đai Từ thực tế cho chúng ta thấy các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai, không phải lúc nào cũng nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề trong quan hệ pháp luật đất đai. Vì vậy sẽ xuất hiện những ý kiến khác nhau, những mâu thuẫn, bất đồng được nảy sinh ra bên ngoài và được thể hiện trên thực tế bằng những hành động cụ thể. Do vậy chúng ta có thể khái niệm về tranh chấp đất đai như sau: Tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể sử dụng mà còn ảnh hưởng không tốt đến lợi ích của Nhà nước - xã hội. Bởi vì khi xảy ra tranh chấp sẽ có một bên không được thực hiện quyền của mình, từ đó không thực hiện được nghĩa vụ với Nhà nước. Ngoài xã hội tranh chấp đất đai thường gặp các dạng sau; - Tranh chấp giữa chủ cũ và mới do; cho mượn, cho ở nhờ đòi lại nhưng người mượn, ở nhờ không trả lại và xẩy ra tranh chấp với nhau. Luan van 8 - Tranh chấp giữa nông, lâm trường, trạm trại với dân địa phương.
- Tranh chấp giữa các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang với dân địa phương. - Tranh chấp đòi chia quyền thừa kế trong gia tộc, gia đình. - Tranh chấp giữa các hộ kinh tế mới với đồng bào địa phương. - Tranh chấp địa giới hành chính các cấp….
Đặc điểm của khiếu nại, tố cáo, tranh chấp 1. Đặc điểm của khiếu nại - Cơ sở của giải quyết khiếu nại là khiếu nại hành chính theo quy định của pháp luật. Khiếu nại hành chính là biểu hiện của tranh chấp hành chính giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan công quyền khi cá nhân, tổ chức cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định, hành vi hành chính. Giải quyết khiếu nại hành chính chỉ được triển khai khi có khiếu nại hành chính.
Và giải quyết khiếu nại hành chính cũng là nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Mặt khác việc giải quyết khiếu nại hành chính còn bảo đảm cho công dân được tham gia vào giám sát hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời cũng giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa chữa những bất hợp lý, sai sót trong quá trình quản lý; từ đó ý thức trách nhiệm của chủ thể quản lý cũng được nâng cao khi có sự giám sát của nhân dân. - Đối tượng xem xét khi giải quyết khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý thực hiện quản lý hành chính nhà nước dựa trên trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định nhằm duy trì, bảo vệ và củng cố trật tự quản lý hành chính nhà nước.
Việc ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính hợp pháp là một trong những hoạt động quản lý của chủ thể quản lý vừa là biểu hiện của việc thiết lập trật tự quản lý vừa là biểu hiện duy trì trật tự quản lý hành chính Luan van 9 nhà nước. Quyết định hành chính, hành vi hành chính bất hợp pháp không những không thiết lập, duy trì trật tự quản lý, phá vỡ trật tự quản lý mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì thế khi giải quyết khiếu nại hành chính, đối tượng xem xét chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại. Kết quả giải quyết khiếu nại chính là việc khẳng định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại.