phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao cho Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÌNH ĐỘ CAO TRONG LĨNH VỰC NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhân lực khoa học và công nghệ Nhân lực KH&CN là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm cách tiếp cận riêng của mỗi quốc gia và các tổ chức nghiên cứu. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - OECD (1995), nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây [13, tr.9]: - Hoàn thành bậc giáo dục đại học (tertiary level of education) (tương ứng bậc 5-8 (tức Mức III) của Bảng ISCED-11_ The international Standard Classification of Education) hoặc những người tuy chưa được đào tạo chính quy như trên, nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương bậc 5-8. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc - UNESCO (2002), nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ [13, tr.
Như vậy, cách tiếp cận của UNESCO có điểm khác với OECD, thể hiện ở chỗ: UNESCO cho rằng nhân lực KH&CN bao hàm cả đội ngũ nhân lực phụ trợ, trong khi đó OECD không tính bộ phận này là nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ có bằng cấp. Đồng thời, UNESCO cho rằng nhân lực KH&CN phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN còn theo OECD, nhân lực KH&CN không nhất thiết phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN.1: Một số trƣờng phái quan niệm cơ bản về nhân lực KH&CN [6] Quan niệm về nhân lực KH&CN của một số nước trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á - ASEAN [6, tr. Thái Lan: Là một thành viên của UNESCO, Thái Lan chủ yếu áp dụng quan niệm của UNESCO về nhân lực khoa học và công nghệ ngoại trừ một điểm đặc biệt, đó là Thái Lan coi trọng vai trò và năng lực thích ứng với khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Do đó, Thái Lan coi đây là một trong những mũi nhọn phát triển thúc đẩy toàn diện hệ thống nhân lực khoa học và công nghệ.
Singapo: Quan niệm của Singapo không phân biệt nhân lực KH&CN là công dân của Singapo hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Singapo, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước này và hưởng lương của Chính phủ Singapo chi trả, thì họ chính là nguồn nhân lực của Singapo. Và đội ngũ nhân lực khoa học công nghệ của Singapo cũng như đa số các quốc gia tiên tiến trên thế giới, đều gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu, kỹ thuật viên và tương đương và công nhân kỹ thuật. Inđônêxia: Chưa thể hiện rõ định nghĩa hoàn chỉnh về nhân lực KH&CN, chú trọng vào sinh viên tốt nghiệp và người làm việc trong ngành KHKT. Nguyên tắc chỉ đạo trong xây dựng đội ngũ nhân lực KH&CN của Inđônêxia là “think globally, act locally” (tư duy hòa nhập quốc tế, hành động duy trì bản sắc địa phương).
8 Ở Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức về nhân lực KH&CN hay nguồn nhân lực KH&CN. Tuy nhiên, trên thực tế, khi thống kê nhân lực KH&CN người ta đã đưa ra định nghĩa như sau: “Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ, kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên vào hoạt động KH&CN” [13, tr. Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa trên cho nguồn nhân lực KH&CN nói chung và làm cơ sở để định nghĩa nguồn nhân lực NLNT nói riêng. Khái niệm về nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử + Khái niệm về nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT Nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực NLNT bao gồm toàn bộ những người tham gia thường xuyên vào hoạt động NLNT, kể cả những người có bằng cấp chuyên môn về NLNT và những người có trình độ kỹ năng NLNT thực tế tương đương tuy không có bằng cấp về NLNT.
Theo dự thảo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, nhân lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực NLNT đến năm 2020 của Bộ KH&CN trình Thủ tướng Chính phủ vào ngày 20/9/2014 [3, tr.3] nhân lực NLNT được chia thành 03 nhóm là: - Nhân lực NLNT trong cơ quan quản lý nhà nước và pháp quy hạt nhân; - Nhân lực NLNT trong nghiên cứu - triển khai, hỗ trợ kỹ thuật ĐHN; - Nhân lực NLNT trong các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ Nguồn nhân lực NLNT là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực KH&CN, vì vậy cũng có thể được phân loại như sau: Phân loại theo lĩnh vực chuyên môn: có 42 chuyên môn/công việc khác nhau trong lĩnh vực NLNT như: công nghệ lò năng lượng; công nghệ lò nghiên cứu; an toàn hạt nhân; an toàn bức xạ; công nghệ chế biến quặng phóng xạ; công nghệ nhiên liệu hạt nhân; công nghệ xử lý chất thải phóng xạ; quan trắc phóng xạ môi trường; công nghệ sản xuất đồng vị phóng xạ, dược chất phóng xạ; kỹ thuật kiểm tra không phá huỷ (NDT); quan hệ quốc tế và thực thi điều ước quốc tế về NLNT; quan hệ công chúng, thông tin và truyền thông về ĐHN; văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách về năng lượng nguyên tử; cấp phép, thanh tra, kiểm tra an toàn bức xạ và hạt nhân; thanh 9 sát và an ninh hạt nhân; ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân; quản lý dự án (ĐHN, KH&CN.); quy hoạch năng lượng, … [3, tr.3] Phân loại theo trình độ kỹ năng, gồm hai loại chính: - Nhân lực chuyên ngành hạt nhân; - Nhân lực chuyên ngành phi hạt nhân. Phân loại theo trình độ đào tạo, bao gồm: - Công nhân kỹ thuật; - Cao đẳng; - Đại học NLNT; - Thạc sĩ NLNT; - Tiến sĩ NLNT. Ngoài ra còn có thể phân loại theo độ tuổi và giới tính. Trong giới hạn nghiên cứu, luận văn này chỉ tập trung vào nhóm nhân lực KHCN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT.
+ Khái niệm về nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT Nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT được hiểu là những người tham gia gián tiếp hay trực tiếp vào các hoạt động trong lĩnh vực NLNT (bao gồm hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực NLNT; xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, khai thác, quản lý và tháo dỡ cơ sở hạt nhân, cơ sở bức xạ; thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng phóng xạ; sản xuất, lưu giữ, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao, xuất khẩu, nhập khẩu nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạt nhân; xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ và các dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử) - (Luật Năng lượng nguyên tử ngày 03 tháng 06 năm 2008), có trình độ học vấn thạc sĩ trở lên hoặc tương đương, có kỹ năng, bí quyết vượt trội đã được chứng minh bằng kết quả thực tế. Ngoài ra, họ có khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cho công việc của ngành NLNT. Trên thực tế, nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT thường là những người tốt nghiệp chuyên ngành vật lý, hóa học, toán học., trực tiếp tham gia các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và quản lý của ngành NLNT. Họ là những người có đủ năng lực, kinh nghiệm chuyên môn, ngoại ngữ để có thể đại 10 diện cho ngành NLNT Việt Nam tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn về NLNT do Cơ quan NLNT quốc tế và các nước liên quan tổ chức.
Đặc biệt, nhân lực KH&CN trình độ cao trong lĩnh vực NLNT thường là những người giữ vị trí lãnh đạo, chủ chốt trong cơ quan. Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao 1. Vai trò của ngành năng lượng nguyên tử trong phát triển khoa học và công nghệ, kinh tế của các nước phát triển Lịch sử phát triển kinh tế thế giới hiện đại cho thấy, để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều quốc gia đã sớm xác định việc ứng dụng NLNT là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Chính vì vậy, họ sớm xây dựng và thực hiện chiến lược nghiên cứu, ứng dụng và phát triển NLNT.
Nhờ đó, NLNT đã phát huy vai trò và có đóng góp hiệu quả, nâng cao tiềm lực KH&CN của quốc gia, góp phần tích cực vào việc giữ gìn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, NLNT có đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trên cả hai lĩnh vực ứng dụng phi năng lượng (ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ) và năng lượng (ĐHN). Quy mô đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội có xu hướng tăng theo trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, đóng góp của ứng dụng NLNT vào giá trị kinh tế xã hội đạt mức 2 GDP, đạt giá trị 158 tỷ USD vào năm 1997, trong đó đóng góp của các ứng dụng phi năng lượng chiếm 75 và của ĐHN chiếm 25 ; ở Nhật Bản việc ứng dụng năng lượng bức xạ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã đóng góp 1,5 GDP cho ngân sách quốc gia (năm 1997); ở Trung Quốc, việc ứng dụng năng lượng bức xạ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã đóng góp 10 GDP cho ngân sách quốc gia (năm 1997) [15, tr.