Chương 1: Tổng quan về an toàn giao thông. Chương 2: Thực trạng và các nguyên nhân gây tai nạn giao thông trên quốc lộ 13- tỉnh Bình Dương. Chương 3: Một số giải pháp khắc phục TNGT và nâng cao ATGT trên các tuyến nghiên cứu. Kết luận và kiến nghị.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ AN TOÀN GIAO THÔNG 1.1 Một số khái niệm Trong hai thập kỷ đổi mới cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế là sự gia tăng về thu nhập và mức độ sở hữu, sử dụng về phương tiện giao thông cơ giới đặc biệt là xe máy và xe ô tô con cũng như hệ thống hạ tầng giao thông vận tải. Nhu cầu vận tải hành khách và hàng hoá tăng lên một cách nhanh chóng. Hệ thống đường sá, cầu cống ở Việt Nam cũng được xây dựng và nâng cấp đáng kể. Kinh tế phát triển và mức sống người dân ngày càng được nâng cao.
Nhưng trong thập kỷ qua, sự gia tăng về thu nhập và sự phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đã góp phần vào sự gia tăng nhanh chóng của các loại xe cơ giới, đặc biệt là xe mô tô. Khối lượng giao thông tăng kéo theo các vấn đề liên quan như: nạn ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn, mất trật tự về an toàn giao thông ở các đô thị và đặc biệt là tai nạn giao thông. Mặt khác, mức độ hiểu biết và chấp hành các yêu cầu về an toàn giao thông vẫn còn rất thấp trong công chúng. Các nhà chức trách không phải lúc nào cũng nhận thấy hết vai trò của mình trong việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông.
Chính vì thế tai nạn giao thông đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng, mà trong đó an toàn giao thông được coi như một trong những chính sách cấp thiết nhất của chính phủ Việt Nam hiện nay. Với rất nhiều nỗ lực, tai nạn giao thông bước đầu đã được kiềm chế nhưng kết quả vẫn còn chưa vững chắc. Số vụ tai nạn giao thông và số người chết vì tai nạn giao thông vẫn còn ở mức cao. Tại Việt Nam, tai nạn giao thông đường bộ chiếm trên 90%.
Số vụ tai nạn giao thông, số người chết và bị thương liên tục tăng trong nhiều năm, từ năm 1999 và bắt đầu giảm từ năm 2003. Tuy nhiên việc giảm này chưa ổn định và chưa bền vững. Ủy ban An toàn giao thông quốc gia đã có báo cáo về tình hình tai nạn giao thông trong 7 tháng vừa qua (tính từ ngày 16/12/2016 đến 15/7/2017). Theo đó, cả nước xảy ra 11.172 vụ TNGT, làm chết 4.761 người, bị thương 9.1: Biều đồ TNGT 7 tháng đầu năm 2017 (Nguồn: sƣu tầm internet) 1.
Giao thông đƣờng bộ Giao thông là thuật ngữ dùng để chỉ sự liên hệ giữa hai điểm (khu vực), tuy nhiên thuật ngữ giao thông gắn liền với từng ngữ cảnh. Cụ thể trong lĩnh vực GTVT, thuật ngữ giao thông được hiểu trong từng ngữ cảnh như sau: - Về cơ sở hạ tầng phục vụ cho phương tiện hoạt động và con người đi lại, thì khi đó giao thông được hiểu là toàn bộ cơ sở hạ tầng phục vụ cho giao thông và được cụ thể hóa là mạng lưới hay hệ thống giao thông gồm cả giao thông động (phục vụ sự di chuyển của phương tiện hay đi lại của con người) giao thông tĩnh (phục vụ cho việc dừng đỗ thực hiện các tác nghiệp vận chuyển đầu cuối cho phương tiện và cho con người ). - Về việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở thì giao thông ở đây có nghĩa là chuyển dịch người và phương tiện trên tuyến đường giao thông từ nơi này sang nơi khác. Dòng phương tiện và người di chuyển trên đường được gọi là dòng giao thông (giao thông ở đây là tính từ), và sự va chạm ngẫu nhiên giữa chúng tạo nên tai nạn giao thông (phân biệt với các tai nạn khác như tai nạn lao động, tai nạn nghề nghiệp,…).
Tuy nhiên, trong thực tế, nhất là ở Việt Nam, trên đường ngoài phương tiện và người ra, còn có sự góp phần của các 6 vật nuôi mà người dẫn đi trên đường, đó là vấn đề cần xem xét khi bàn về vấn đề an toàn giao thông. Do vậy, trong đề tài này khái niệm dòng giao thông được hiểu là tập hợp các phần tử di chuyển trên đường bộ. Khái niệm về vận tải đƣờng bộ Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nh m đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển. Đối tượng vận chuyển gồm con người ( hành khách) và vật phẩm ( hàng hóa).
Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian rất đa dạng, phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nh m mục đích kinh tế để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi. Có thể khái niệm về vận tải như sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian để nh m thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. An toàn giao thông An toàn giao thông là tình trạng yên ổn hoàn toàn không có nguy hiểm, không có sự cố, không làm thay đổi tính chất, trạng thái, kể cả hình dạng đối với chính đối tượng trong một hoạt động nào đó.
An toàn giao thông là sự không nguy hiểm, thông suốt và không bị xâm hại đối với người, phương tiện tham gia giao thông khi hoạt động trên các tuyến, đoạn đường giao thông. An toàn giao thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố: người tham gia giao thông, phương tiện giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông và môi trường. Một trong những yếu tố này có sự bất bình thường đều có thể dẫn đến tai nạn giao thông hoặc mất an toàn giao thông. Tương tự, an toàn giao thông đường bộ là sự không nguy hiểm thông suốt, không bị xâm hại đối với người, phương tiện tham gia giao thông khi hoạt động trên các tuyến, đoạn đường hoặc toàn tuyến đường bộ.
Tai nạn giao thông Theo nghĩa chung nhất, tai nạn là một sự cố xảy ra không có chủ định và không cố ý, thường dẫn đến thiệt hại về tài sản và con người. Tai nạn giao thông xảy ra khi một phương tiện va chạm với một phương tiện khác, hoặc với người đi bộ, động vật, mảnh vụn hoặc các vật thể tĩnh tại như 7 nhà cửa, cây cối hoặc cột… Các va chạm này có thể dẫn đến thương vong, thiệt hại về phương tiện và tài sản. Có quan điểm cho r ng tai nạn giao thông là sự cố rủi ro, bất ngờ xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên các tuyến đường giao thông, có thể do chủ quan vi phạm các quy định về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, hoặc do gặp phải tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây ra những thiệt hại nhất định về người và tài sản cho xã hội. Một số dấu hiệu đặc trƣng của tai nạn giao thông: - Tai nạn giao thông xâm hại đến các quan hệ được pháp luật bảo vệ như: sức khỏe, tính mạng, hoặc quan hệ về sở hữu tài sản.
- Tai nạn giao thông là loại tai nạn xã hội. Được thực hiện b ng các hành vi cụ thể của con người (hành vi này có thể vi phạm hoặc không vi phạm luật lệ giao thông) nhưng trên thực tế đã trực tiếp hoặc gián tiếp đã gây ra thiệt hại nhất định cho xã hội. Rủi ro về tai nạn giao thông luôn luôn tồn tại khi có hoạt động giao thông vận tải. - Chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi gây ra các thiệt hại cụ thể trong vụ tai nạn giao thông phải là các đối tượng đang tham gia hoạt động giao thông và các thiệt hại vật chất đó phải do chính các hoạt động giao thông cụ thể của họ gây ra.
Các đối tượng tham gia giao thông bao gồm con người, phương tiện, đường sá. - Tai nạn giao thông xảy ra do đã có vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông hoặc là sự kiện bất ngờ trực tiếp xâm hại đến các quan hệ về trật tự an toàn xã hội. - Tai nạn giao thông gây ra hậu quả thiệt hại nhất định cho con người và tài sản, đây là một dấu hiệu bắt buộc. Hậu quả thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra có mối quan hệ nhân quả của hành vi vi phạm pháp luật.
Hành vi gây ra thiệt hại thường trái với quy định của pháp luật. Tai nạn giao thông đƣờng bộ Tai nạn giao thông đường bộ là tai nạn giao thông có liên quan đến phương tiện giao thông đường bộ.Tai nạn giao thông đường bộ có thể xảy ra giữa hai phương tiện GTVT đường bộ, cũng có thể xảy ra giữa một phương tiện GTVT đường bộ với một phương tiện GTVT khác. 8 Tai nạn giao thông đường bộ luôn chiếm một tỷ trọng cao trong tổng số các vụ va chạm. Lý do chính là do giao thông vận tải đường bộ có mức độ an toàn thấp hơn các phương thức vận tải khác như đường sắt hoặc đường biển.
Điểm đen Theo ý kiến chuyên gia điểm đen có thể được định nghĩa theo những quan điểm khác nhau: Theo Bộ GTVT (tại Thông tư 26/2012/TT-BGTVT)Quan điểm thứ nhất (Tổng cục đường bộ Việt Nam): Điểm đen là một vị trí thường xảy ra TNGT trong 1 năm có: - Bình quân từ 2 vụ tai nạn nghiêm trọng (tai nạn có người chết) trở lên; - Bình quân từ 3 vụ tai nạn, trong đó có 1 vụ nghiêm trọng trở lên; - Bình quân từ 5 vụ tai nạn không nghiêm trọng (chỉ có người bị thương) trở lên. Theo quan điểm của Bộ GTVT Anh Quốc, nếu một vị trí xảy ra quá 3 vụ tai nạn giao thông thì đây là khu vực có vấn đề (điểm đen) và cần có giải pháp xử lý.2 Các nguyên nhân chính ảnh hƣởng đến an toàn giao thông 1.1 Tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về trật tư ATGT Trong những năm qua Đảng, Chính Phủ, Quốc Hội, các Bộ ngành, các địa phương đã ban hành nhiều chỉ thị, cơ chế và chính sách để phục vụ công tác đảm bảo TTATGT như: - Quốc hội đã ban hành Luật giao thông đường bộ (sửa đổi năm 2008). - Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách nh m kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. - Nghị quyết 16/2008/NQ-CP về từng bước khắc phục ùn tắc giao thông tại TP Hà Nội và TP HCM.