CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỜ BIỂN HẢI HẬU – NAM ĐỊNH 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân sinh kinh tế: 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển Bắc Bộ, tuyến đê biển Nam Định được hình thành cách đây khoảng 250 năm, trên nền đất bồi tụ phù sa của hệ thống Sông Hồng. Tuyến đê chạy dọc từ cửa Ba Lạt (Sông Hồng) đến Cửa Đáy, có tổng chiều dài khoảng 91,8 km có nhiệm vụ bảo vệ cho các huyện: Hải Hậu, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng, Trực Ninh.
Tuyến đê biển Nam Định nói chung, một số các đoạn đê biển Hải Hậu nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ cộng đồng dân cư, phát triển kinh tế, góp phần giữ gìn an ninh, ổn định chính trị xã hội vùng ven Biển. Nam Định có 4 con sông lớn chảy qua: Sông Hồng chảy qua Nam Định với chiều dài xấp xỉ 70 km, đổ ra biển Đông qua cửa Ba Lạt. Sông Ninh Cơ dài 60 km là chi lưu bờ hữu của sông Hồng, phân lưu tại cửa Mom Rô, đổ ra biển Đông qua cửa Lạch Giang. Sông Đào dài 33,5 km là phân lưu của sông Hồng, hợp lưu với sông Đáy tại ngã ba Độc Bộ, sông Đáy chảy qua Nam Định với chiều dài gần 80 km, đổ ra biển qua cửa Đáy.
Sông Sò là nhánh sông nhỏ nhận nước từ cuối sông Hồng thông ra Biển Đông qua cửa Hà Lạn. Nam Định nằm ở phía Đông Nam đồng bằng Bắc Bộ, trong khoảng 19,9÷20,5 độ vĩ Bắc, 105,9÷106,5 độ kinh Đông. Nam Định có tổng diện tích tự nhiên khoảng 1.678 km2, tiếp giáp với 3 tỉnh: Hà Nam, Thái Bình và Ninh Bình; Phía Đông Nam tiếp giáp với biển Đông với dải bờ biển dài 72km, thuộc địa giới hành chính của 3 huyện ven biển: Hải Hậu, Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng. Diện tích của 3 huyện ven biển khoảng 720 km2, chiếm xấp xỉ 44% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh.
1: Bản đồ vị trí địa lý tỉnh Nam Định Hải Hậu là một huyện ven biển phía Đông Nam thuộc Tỉnh Nam Định, nằm trong giới hạn từ 20000’ - 20015’ vĩ độ Bắc và 106011’ - 106023’ Kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh. Phía Đông giáp sông Ninh Cơ. Phía Nam và Đông Nam giáp Biển Đông.
Tổng diện tích tự nhiên của Hải Hậu là 230.2 km2 chiếm 14% diện tích tỉnh Nam Định. Bờ biển Hải Hậu dài 33,3 km, nằm ở phía Đông Nam thuộc vùng hạ lưu đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trong khu vực biển Hải Hậu có 4 con sông chính đổ ra biển: phía Bắc có sông Hồng đổ ra biển Đông qua cửa Ba Lạt, sông Sò (với cửa Hà Lạn), ở phía Nam có sông Ninh Cơ (với cửa Lạch Giang), sông Đáy (với cửa Đáy) - 6- Hình 1. 2: Bản đồ vị trí địa lý huyện Hải Hậu- Tỉnh Nam Định 1.
Đặc điểm về kinh tế - xã hội 1.Đặc điểm về xã hội 1/ Dân số Nam Định là một trong những tỉnh có dân số đông trong cả nước và là nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2006 Nam Định có 1.300 người với mật độ dân số 1.196 người/km². Quá trình hình thành cộng đồng cư dân Nam Định gắn liền với quá trình cư dân người Việt từ vùng tiền châu thổ tràn xuống lấn chiếm vùng châu thổ và duyên hải Bắc Bộ. Chính vì vậy, Nam Định là nơi hội tụ và là nơi hợp cư của nhiều bộ phận cư dân khác nhau, trong đó chủ yếu là từ vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Sự hình thành cộng đồng cư dân ở Nam Định cũng đồng thời gắn liền với quá trình phát triển nền nông nghiệp thâm canh trên vùng đất phù sa màu mỡ. Chính vì vậy, mật độ dân số ở khu vực này là khá cao so với cả nước và với đồng bằng Bắc Bộ (trừ các đô thị Hà Nội, Hải Phòng…). - 7- 2/ Nguồn lao động Theo các kết quả điều tra, Nam Định là tỉnh có dân số đông và lực lượng lao động khá lớn. Trong tổng số lao động, tỷ lệ nam thấp hơn so với nữ, nhưng ngược lại, tỷ lệ lao động nữ không có chuyên môn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động và so với nam giới.
Tỉ lệ lao động không có chuyên môn cao: 90%, cao hơn mức bình quân ở đồng bằng sông Hồng là 84% và cao hơn mức bình quân của cả nước là 88,2%. Do đó, trong quy hoạch, đào tạo lao động cần chú ý đào tạo lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong cơ cấu lao động xã hội Nam Định, lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn gần 80% và nếu tính nhóm ngành nông nghiệp thì tỷ lệ này chiếm trên 80% (năm 1996), so với bình quân cả nước là 70% (năm 1990). Nam Định là một trong những tỉnh có tỷ lệ cư dân thành thị thấp so với khu vực nông thôn.
3/ Giáo dục – y tế Hiện nay với dân số xấp xỉ 2 triệu người, vốn cần cù, thông minh, giàu tài năng, nhưng GDP bình quân trên đầu người vẫn thấp so với các tỉnh trong khu vực và trong cả nước. Do đó cần xác định chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở khu vực này. Người dân Nam Định có truyền thống hiếu học. Trong cơ chế thị trường hiện nay, giáo dục Nam Định vẫn không ngừng phát triển, tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục trong tổng chi tiêu địa phương (năm 1998) cao nhất cả nước 4/ Văn hóa – truyền thống Nam Định là một vùng văn hoá tiêu biểu và đặc sắc, với tính cách đặc trưng của miền “giao thuỷ”.
Ăn, mặc, ở, đi lại của người Nam Định vừa là sự thích nghi, hoà đồng của con người với tự nhiên, vừa là sự tận dụng và khai thác của con người đối với môi trường tự nhiên ven sông, gần biển. Trên cái nền tín ngưỡng dân gian, của tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thành hoàng tại vùng phía Bắc của Nam Định, được quan niệm là một vùng “không gian thiêng” đã là nơi khởi phát và trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu và thờ Đức thánh Trần. Vùng ven biển Nam Định lại là nơi đầu tiên tiếp nhận và sớm trở thành mảnh đất màu mỡ cho Thiên chúa giáo nẩy mầm, bén rễ, trở thành một trung tâm Thiên chúa giáo lớn. Cả Nho - 8- giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo và các tín ngưỡng dân gian khác đều song song tồn tại, phát triển, thậm chí có khi hoà đồng trong mỗi làng xã, mỗi gia đình, làm cho đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Nam Định thật nổi trội, phong phú và độc đáo.
Đặc điểm về kinh tế 1/ Nông nghiệp Nam Định là tỉnh trọng điểm sản xuất nông nghiệp của khu vực châu thổ sông Hồng, sản lượng lương thực hàng năm đạt 1 triệu tấn, lương thực bình quân đầu người trên 506 kg. Tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất nông nghiệp thời kỳ 2001-2005 đạt 3,46%. Cơ cấu ngành có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt (năm 2001 là 75,12%, năm 2004 là 69,03%), chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp có xu hướng tăng (năm 2001 là 22,7%, năm 2004 là 26,8%). Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp ổn định, năng suất lúa đạt 120 tạ/ha/năm, sản lượng lương thực cây có hạt bình quân 106 ngàn tấn/năm.
Tuy nhiên, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng chuyển dịch chậm, chưa hình thành những vùng chuyên canh chất lượng cao. - Trồng trọt: Trong những năm gần đây, diện tích gieo trồng của tỉnh Nam Định chuyển dịch theo hướng giảm diện tích lúa kém hiệu quả, bình quân mỗi năm giảm 1000 ha. Từ năm 2001 đến nay đã giảm 5.384 ha chuyển sang trồng cây công nghiệp và cây xuất khẩu, phần diện tích còn lại chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ tiếp tục được đổi mới, đưa nhanh các giống lúa, màu, cây công nghiệp cao sản, chất lượng tốt vào sản xuất như: Nhị Ưu 63, 838, Bắc Ưu 64, 903, các giống lúa thuần Việt Hương, Khang Dân 18 … Năng xuất lúa tăng từ 117,4 tạ/ha năm 2001 lên 122,7 tạ/ha năm 2004 và giữ vững đến 2006.
Sản lượng lương thực hàng năm đạt xấp xỉ 1 triệu tấn, lương thực bình quân đầu người trên 506 kg. Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung gắn với bảo quản chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đa dạng như vùng nguyên liệu lạc Ý Yên, Vụ Bản, - 9- Nam Trực, vùng, khoai tây, rau, vùng lúa đặc sản ở Hải Hậu, Nghĩa Hưng, vùng hoa cảnh ở Nam Trực, thành phố Nam Định và Mỹ Lộc. Giá trị sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng lên.119 triệu đồng, đến năm 2004 đã đạt 3. Giá trị thu nhập 1 ha canh tác cũng không ngừng tăng lên, từ 28 triệu năm 2001 lên Bảng 1.
1: Diện tích và sản lượng nông nghiệp các huyện vùng bờ Nam Định năm 2006 STT Tên huyện Tổng diện tích (ha) Diện tích lúa (ha) Năng suất lúa (tạ/ha) 1 Giao Thủy 21277 16.268,5 61,31 Nguồn: Sở NN & PTNN Nam Định, 2007 - Chăn nuôi: Trong những năm gần đây, chăn nuôi phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Thế mạnh về chăn nuôi gia súc, gia cầm đã phát huy ở mọi địa phương. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, thức ăn, cách nuôi dưỡng, thú y được đưa nhanh vào sản xuất như nuôi lợn ngoại tỷ lệ nạc cao, gà tam hoàng, kabia, vịt siêu trứng, ngan Pháp. Đàn lợn năm 2004 đạt 73,7 vạn con, tăng 30,92% so với năm 2000, đàn gia cầm đạt 5 triệu con, tăng 4,6% so với 2000 và đàn trâu bò đạt xấp xỉ 45.
Sản lượng thịt xuất chuồng năm 2004 đạt 63.159 tấn so với năm 2001, thịt xuất khẩu 7.000 tấn, tăng 2,8 lần so với năm 2001. Tuy nhiên cơ cấu đàn chuyển dịch chậm, chưa có những mô hình qui mô trang trại, chủ yếu sản xuất kiểu kinh tế hộ gia đình, tận dụng nên hiệu quả thấp. - Lâm nghiệp: Diện tích rừng hiện có là 4.950 ha nhưng do diện tích có khả năng trồng rừng hạn chế nên tốc độ tăng trưởng không đáng kể. Diện tích rừng của tỉnh Nam Định tập trung ở 3 huyện ven biển, chủ yếu là rừng ngập mặn tự nhiên.
Ngoài ra, Nam Định còn nhận được sự hỗ trợ của Hội chữ thập đỏ Đan Mạch, đã trồng được hàng nghìn - 10 - ha rừng ngập mặn khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng và Giao Thủy. Những năm gần đây, tỉnh cũng đã có nhiều chương trình trồng và bảo vệ rừng ngập mặn tại những bãi bồi và đã thu được nhiều kết quả đáng kể.