CHƯƠNG I. Cơ sở lý luận về truyền thông an toàn thực phẩm và giải pháp Công tác xã hội. CHƯƠNG II. Đánh giá thực trạng các hoạt động truyền thông an toàn thực phẩm.
CHƯƠNG III. Các giải pháp Công tác xã hội nhằm tăng cường vai trò, hiệu qua của truyền thông đại chúng trong đảm bảo an toàn thực phẩm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRUYEN THONG AN TOAN THUC PHAM VA GIAI PHAP CONG TAC XA HOI 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm Công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội: “Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng dé nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ.” (Zastrow, 1996) [18] Tháng 7/2000, tại Hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên Công tác xã hội (IFSW) tô chức tại Canada, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: “Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc day sự thay đổi xã hội, giải quyết các van dé trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dé chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp và những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bang là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội.” [§] Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh - giảng viên trường Đại học mở bán công TPHCM: “Công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các van đề đời sống của họ” [11] Ở nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa về CTXH trong Giáo trình Nhập môn CTXH của tác giả Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghệ, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng dong nâng cao năng luc đáp ứng nhu cau và tăng cường chức năng xã hội, dong thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các van dé xã hội góp phan đảm bảo an sinh xã hội. Khái niệm truyền thông Khái niệm truyền thông được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau: 19 John R.
Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời. Theo Genald Miler (1966) thì truyền thông quan tâm nhất tới tình huống hành , trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ. Theo cuốn Khoa học giao tiếp của Nguyễn Ngọc Lâm (NXB Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, 2006) thì “Truyén thông là một tiến trình trao đổi các thông điệp có lời và không lời nhằm để hiểu, phát triển và ảnh hưởng đến các mối quan hệ giữa người với người.
” [13] Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Truyền thông đơn giản là quá trình truyền đạt thông tin, sử dụng ngôn ngữ, chữ viết, hình ảnh, màu sắc nhằm tắc động trực tiếp đến tư duy suy nghĩ của đối tượng mà chúng ta muốn hướng đến. Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày những kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên, mệnh lệnh, hoặc câu hỏi.
Các hoạt động này được thé hiện qua nhiều hình thức như hành động thực tế, bai đăng, bai phát biéu, hay bản tin trên các phương tiện truyền hình, truyền thông đại chúng. Mục tiêu có thê là hướng đến các cá nhân hay tổ chức, thậm chi là chính người/tổ chức gửi đi thông tin. Những yếu t6 cơ bản của Truyền thông bao gồm: + Nguồn là đem lại thông tin và bắt đầu quá trình truyền thông. + Thông điệp là thông điệp từ nhà truyền thông muốn gửi đến người nhận thông tin.
+ Kênh truyền thông là đường chuyền tải thông tin dữ liệu đến người tiếp thông tin. + Người tiếp nhận là một cá nhân hoặc tập thể nhận thông tin. + Phản hồi là thông tin ngược, là dong chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguôn phát. 20 + Nhiễu là yếu tổ gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình truyền thông như tiếng Ôn, các yếu tố về tâm lý,.
Bên cạnh đó, truyền thông còn được định nghĩa dựa trên truyền thông không băng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng. Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng. 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được.
Truyền thông băng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp băng ngôn từ tới người khác. Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa va thé hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia. Truy thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa ba đến mười hai cá nhân và khác biệt với trao đối qua lại giữa các nhóm lớn hơn như công ty hay cộng đồng. Hình thức truyền thông này được hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một kênh thông tin.
Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyên các thông điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. [19] Nhu vậy, có thé hiểu truyền thông là việc chuyền đồi thông tin và nhận thức được ý nghĩa của những biểu tượng được truyền từ người này sang người khác. Đó là tiến trình gửi, nhận va chia sẻ các ý tưởng, quan điểm, ý kiến và các sự kiện; truyền thông chỉ thực hiện khi có người gửi và người nhận. Nó được hiểu là quá trình trao đổi thông tin, tương tác với nhau giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng Cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đôi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi va thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội.
Ngoài ra, truyền thông còn được hiểu là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội. Khái niệm truyền thông trong công tác xã hội Truyền thông trong CTXH chính là truyền tải những nguyên tắc của công tác xã hội, thực hiện vai trò của nhân viên CTXH, các hoạt động của CTXH và những 21 dịch vụ mà CTXH cung cấp qua các kênh thông tin truyền thông, qua các cuộc trao đôi, tọa đàm, hội nghị. đến người dân trong cộng đồng. Truyền thông an toàn thực phẩm chính là quá trình liên tục chia sẻ thông tin, kiến thức về an toàn thực phẩm, cũng như các văn bản luật pháp, chính sách của Nhà nước về vấn đề này.
Bên cạnh đó, còn thể hiện thái độ, tình cảm và kỹ năng giữa người truyền thông — nhân viên Công tác xã hội và đối tượng tiếp nhận nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ, nâng cao hơn là thay đổi về hành vi nhằm đảm bao an toàn thực phẩm trong việc cung cấp va sử dụng thực phẩm theo mục tiêu truyền thông đề ra. Có thé thấy, truyền thông trong CTXH giúp nâng cao nhận thức về vai trò của truyền thông trong việc thúc đây sự phát triển của CTXH. Bên cạnh đó, góp phan thúc đây, hình thành phát triển nguồn vốn xã hội dé phát triển lĩnh vực CTXH. Truyền thông trong CTXH còn giúp phát triển nguồn vốn xã hội (tri thức, kinh nghiệm, các loại hình của mạng lưới CTXH.
Lĩnh vực CTXH gắn với đời thường, các quan hệ thường nhật, đặc biệt quan tâm đến những người yếu thế trong xã hội. Do vậy, truyền thông về CTXH phải hướng vào tâm tư, nguyện vọng của những người được thụ hưởng sự trợ giúp từ CTXH. Không chỉ vậy, truyền thông trong CTXH còn góp phần thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực này. Truyền thông giữ vai trò định hướng dư luận xã hội, điều này giúp thuận lợi cho việc thúc đây phát triển CTXH, tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng đường lối, chính sách, luật pháp, thực hiện công tác tô chức, quản lý của nhà nước.
Khái niệm thực phẩm: Thực phẩm là nhu cầu cần thiết và thiết yếu trong cuộc sống của mỗi con người, là yếu tố quan trọng đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của nhân loại. “Thực phẩm” hay còn được gọi là thức ăn có thé được hiểu là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở 22 thích. Dù có nhiều khái niệm cũng như quan niệm khác nhau nhưng ta có thể cơ bản hiểu về thực phẩm như sau: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Khái niệm thực phẩm này không bao gồm thuốc dùng cho người, các chất gây nghiện và thuốc lá”.
[14] Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003, khoản 1 điều 3 định nghĩa thực phâm như sau: “Thực pham là những sản phâm mà con người ăn, uống ở dang tuỏi sống hoặc đã qua chế biến bảo quản.” Theo điều 2, Luật an toàn thực phẩm 2010: “Thực phẩm là sản phẩm ma con người ăn, uống ở dang tuoi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bao quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm.” [10] Như vậy, có thê hiểu: Thực phẩm là tất ca những sản phẩm ở trạng thái tươi song hoặc đã qua sơ chế, chế biến và được bảo quản nhằm phục vụ cho nhu cẩu ăn, uống của moi con người. Khái niệm an toàn thực phẩm: “An toàn thực phẩm” là khái niệm khoa học có nội dung rộng hơn khái niệm vệ sinh thực phẩm. ATTP được hiểu như khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người.
Nguyên nhân không chỉ ở vi sinh vật mà còn được mở rộng ra do các chất hóa học, các yếu tố vật lý.