CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÓI LỞ VÀ CÁC LOẠI KÈ BẢO VỆ BỜ SÔNG TIỀN 1.1 TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN XÓI LỞ BỜ SÔNG KHU VỰC NAM BỘ.1 Diễn biến xói lở bờ khu vực Nam bộ và hệ thống sông Cửu Long Qua công tác theo dõi, nghiên cứu thấy rằng: bờ các sông thuộc hệ thống sông Cửu Long thường xuyên xảy ra hiện tượng sạt lở, đã ghi nhận những thiệt hại lớn, nhất là những khu vực tập trung dân cư như : Thị xã Tân Châu - Thành phố Long Xuyên (An Giang); Thị xã Hồng Ngự - Thành phố Sa Đéc (Đồng Tháp); Thành phố Vĩnh Long (Vĩnh Long); Thành phố Mỹ Tho (Tiền Giang). Từ năm 2010 trở lại đây trên khu vực sông Cửu Long có 562 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 786 km. Trong số các điểm sạt lở nêu trên, theo tiêu chí về phân loại sạt lở bờ sông, bờ biển quy định tại Quyết định số 01/2011/QĐ-TT ngày 04/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, hiện có: 40 điểm sạt lở đăc biệt nguy hiểm (sạt lở gây nguy hiểm trực tiếp đến an toàn đê điều, khu tập trung dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng), tổng chiều dài 131 km (bao gồm, bờ sông 21 điểm với tổng chiều dài 37 km, bờ biển 19 điểm với tổng chiều dài 94 km), 154 điểm sạt lở nguy hiểm, tổng chiều dài 116 km (bao gồm 143 điểm sạt lở bờ sông với tổng chiều dài 98km, 11 điểm sạt lở bờ biển với tổng chiều dài 18km), 369 điểm sạt lở bình thường, tổng chiều dài 539 km (bao gồm 350 điểm sạt lở bờ sông với tổng chiều dài 385km; 19 điểm sạt lở bờ biển, với tổng chiều dài 154 km). Sạt lở đã uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai và cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng ngập mặn ven biển.
Vụ sạt lở đất bờ sông Vàm Nao, xã Hội Đông, huyện Chợ Mới (An Giang) Hình 1. Hiện trạng bờ sông khu vực ấp 3B, xã Đạo Thạnh. Hiện trạng bờ sông khu vực ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Phong.2 Nguyên nhân gây ra xói lở bờ sông: 1.1 Xây dựng hồ chứa: Xây dựng các hồ thủy điện thủy lợi là giảm lượng phù sa về vùng hạ lưu. Trên dòng chính sông Mê Kông thuộc lãnh thổ Trung Quốc, Lào và Campuchia đã, đang và dự kiến xây dựng 19 hồ chứa.
Trong đó, đã hoàn thành xây dựng 6 hồ chứa (Trung Quốc); đang xây dựng 04 hồ chứa (02 tại Trung Quốc và 02 thuộc Lào), chuẩn bị xây dựng 01 hồ chứa (Pắc-Beng, thuộc Lào). Tổng dung tích các hồ chứa đã, đang và có kế hoạch xây dựng đến năm 2020 trên dòng chính sông Mê Kông là: 25,3 tỷ m3, trong đó các hồ chứa ở Trung Quốc 22,7 tỷ m3, các hồ chứa ở Lào và Campuchia là 2,6 tỷ m3. Trên các dòng nhánh sông Mê Kông đã thực hiện và có kế hoạch xây dựng tổng số 142 hồ chứa, với tổng dung tích hữu ích là 76,6 tỷ m3 nước, trong đó Thái Lan đã hoàn thành 100%, Việt Nam đã hoàn thành 96%. Kết quả phân tích ảnh hưởng của việc xây dựng các hồ chứa thượng nguồn sông Mê Kông như sau: Trước khi các đập thủy điện trên dòng chính phía Trung Quốc đi vào vận hành (theo tính toán của WWF), tổng lượng phù sa, bùn cát hàng năm về Tân Châu và Châu Đốc (An Giang) là khoảng 73 triệu tấn/năm; sau khi các đập thủy điện Trung Quốc đi vào vận hành sẽ giảm xuống 42 triệu tấn/năm (giảm 42%); khi có thêm các hồ chứa ở Lào và Campuchia đi vào vận hành chỉ còn 15 triệu tấn/năm (giảm 80% trước khi có các thủy điện); sau khi hoàn thành việc xây dựng các hồ trên dòng chính và các dòng nhánh, tổng lượng phù sa, bùn cát về đồng bằng sông Cửu Long so với trước khi các hồ chứa vận hành (trước năm 2012 là 73 triệu tấn/năm) chỉ còn 20% (theo tính toán của WWF).2 Khai thác cát: Khai thác cát làm sâu lòng sông, mất chân đỡ bờ, làm thay đổi dòng chảy.
Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác cát trên sông Mê Kông 11 đang diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các quốc gia, đặc biệt ở hạ lưu vực với lượng khai thác tương đương với lượng bùn cát tự nhiên. Theo báo cáo của WWF (2013), tổng lượng khai thác cát trung bình năm 2011-2012 trên toàn hệ thống sông Mê Kông ước khoảng 35 triệu m3, trong đó: Campuchia là 21 triệu m3, Thái Lan 4,5 triệu m3, Lào 1,4 triệu m3, Việt Nam là 8 triệu m3. Việc khai thác cát quá mức đã làm lòng sông bị hạ thấp, dẫn đến cao độ mực nước về mùa kiệt trên các tuyến sông bị giảm; thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy tại các phân lưu, hợp lưu (lưu lượng từ sông Tiền sang sông Hậu qua sông Vàm Nao có xu thế gia tăng trong những năm gần đây đã làm hạ thấp đáy sông từ -17.00m tại trước hợp lưu xuống -44.00 m tại sau hợp lưu) ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định bờ sông, bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn ven biển. Khai thác cát trái phép trên sông Tiền 1.3 Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Xây dựng hạ tầng dọc bờ sông làm gia tải, sụt lún bờ sông.
Phát triển dân số và cơ sở hạ tầng: Về số dân, theo số liệu thống kê, năm 1999 dân số Đồng bằng là 16,13 triệu người, đến hết năm 2016 là 17,66 triệu người. Diện tích xây nhà ở khu vực này mỗi năm tăng trung bình khoảng 12 18.000 m2, trong đó một phần không nhỏ dân cư sinh sống ở ven sông, kênh rạch, vùng ven biển cùng với đó là việc xây dựng mới nhà ở, cải tạo nâng cấp kiên cố hơn đã làm tăng tải trọng lên bờ sông so với trước kia, một số nơi đã làm thay đổi chế độ dòng chảy trên làm gia tăng nguy cơ gây sạt lở bờ sông. Cùng với gia tăng dân số là các hoạt động sinh kế của người dân cũng ngày càng mạnh mẽ, nhất là khai thác hải sản ở vùng ven biển, không những ngăn chặn quá trình phát triển mà còn làm suy giảm rừng ngập mặn. Xây dựng hạ tầng: Những năm qua, hệ thống giao thông khu vực Đồng bằng cũng đã có những bước phát triển rõ rệt, trong giai đoạn từ 2010-2018, đã xây dựng và nâng cấp mở rộng nhiều tuyến giao thông, trong đó có nhiều đoạn bám sát bờ sông, kênh, rạch, nhất là các tuyến liên huyện, liên xã.
Tác động của các phương tiện vận tải với xu thể ngày càng gia tăng cả về mật độ và trọng lượng cũng là một trong số các yếu tố làm gia tăng nguy cơ sạt lở. Các tác động khác như: lún sụt đất do địa chất yếu, khai thác nước ngầm, quy luật vận động tự nhiên của lòng dẫn, tác động của sóng.4 Khai thác nước ngầm: Việc khai thác nước ngầm quá mức để nuôi trồng thủy, hải sản, nhất là ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau thời gian gần đây đã gây ra hiện tượng lún, sụt đất trên diện rộng, vùng bán đảo Cà Mau có trên 10.000 giếng khoan nước ngầm phục vụ nuôi trồng thủy, hải sản tốc độ lún sụt đất tại khu vực này trong vài năm gần đây vào khoảng 1-2cm/năm, lớn nhất khoảng 3cm/năm. Đây cũng là nguyên nhân gây xói lở bờ sông, bờ biển nhất là vùng bán đảo Cà Mau những năm qua.5 Quy luật vận động tự nhiên của lòng dẫn: Sạt lở, bồi lắng thường xảy ra ở những đoạn sông cong, các cửa phân lưu, nhập lưu, các khu vực sông phân lạch, nơi giao thoa giữa dòng chảy trong sông và dòng triều,. là những nơi dòng chảy không ổn định.
Theo kết quả quan trắc, đánh giá, khi đến Tân Châu và Châu Đốc, tỷ lệ phân phối lưu lượng trong mùa lũ của sông Tiền khoảng 77-78%, sông Hậu khoảng 22-23%. Do có mực nước cao hơn sông Hậu, dòng lũ trên sông Tiền trước khi ra biển qua 6 cửa sông còn chuyển một lượng đáng kể sang sông Hậu qua sông Vàm Nao. Sau khi phân phối lại (sau sông Vàm Nao), tỷ lệ lưu lượng trên sông Tiền tại Mỹ Thuận khoảng 51 -52%, trên sông Hậu Cần Thơ khoảng 48-49%, tạo cho dòng lũ hai sông xấp xỉ nhau.6 Tác động của sóng: Sóng ở vùng ven biển ĐBSCL chủ yếu bởi tác động của các đới gió mùa (gió mùa Tây Nam và gió Chướng). Gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh vào các tháng 7, 8 và 9 với hướng gió vuông góc với bờ biển Tây; gió Chướng hoạt động mạnh vào các tháng 12, 01 và 02, hướng gió vuông góc với bờ biển Đông.
Tốc độ gió của hai đới gió, cấp 5 - 6, giật cấp 7, kéo dài nhiều ngày, kết hợp với kỳ triều cường gây sóng lớn cao từ (1 - 2)m ở vùng biển Tây và (2 - 3)m trên vùng biển Đông tác động trực tiếp vào bờ biển, khu vực cửa sông là một trong những nguyên nhân chính gây xói lở bờ biển và vùng cửa sông ven biển. Nước biển có xu thế dâng cao, bờ biển thường xuyên bị xói lở, hạ thấp do bùn cát giảm, làm chiều cao cột nước tăng, cùng với tác động của gió làm sóng biển ngày càng cao. - Cơ chế sạt lở bờ do sóng thuyền bè gây ra: Dưới tác động của sóng do thuyền bè qua lại gây ra, đất mái bờ bị phá vỡ, bị bào xói rồi lôi kéo đi nơi khác. Trong trường hợp các tác động này xảy ra trong thời gian mùa lũ, mực nước cao thì xói lở chủ yếu diễn ra phía trên bề mặt mái bờ sông rạch.
Khối đất mỗi một đợt sạt lở thường không lớn. Trường 14 hợp các tác động của sóng thuyền bè xảy ra vào thời kỳ mùa kiệt, mực nước thấp thì xói lở mái bờ chủ yếu diễn ra trên mực nước thấp tạo thành hàm ếch, làm giảm dần ổn định mái bờ. Khi gặp mưa hay một tác nhân nào đó làm gia tăng tải trọng khối đất trên hàm ếch, khối đất sẽ hình thành nhiều vết nứt, trước khi sụt lở, tan rã rớt từng mảng nhỏ xuống lòng sông. Sơ họa cơ chế xói lở bờ dưới tác dụng của sóng tạo hàm ếch - Cơ chế sạt lở bờ do tác động của dòng chảy: Khi dòng chảy có vận tốc lớn hơn vận tốc khởi động bùn cát của lòng dẫn sẽ làm cho lòng dẫn bị đào xói, khối đất phản áp của mái bờ bị suy giảm dần.
Đến một giới hạn nhất định mái bờ sẽ bị mất ổn định và sạt lở sẽ xảy ra. Xói lở dạng này thường xảy ra vào thời gian cuối mùa lũ kết hợp với khi triều rút.