CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẤT THU THUẾ VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỚN 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thất thu thuế 1. Khái niệm thất thu thuế Theo từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học (NXB Đà Nẵng 1998), thất thu nói chung trong đó có thất thu thuế là “Thu không đạt mức, ở dưới mức coi là bình thường”. Vậy ta có thể hiểu thất thu thuế là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ phải nộp thuế, song vì những lý do nhất định mà những khoản tiền đó không được nộp vào NSNN.
Phân loại thất thu thuế - Căn cứ vào tính chất của thất thu: Thất thu thuế gồm hai loại: Thất thu thuế thực và thất thu thuế tiềm năng. + Thất thu thuế thực: Được hiểu là những khoản tiền phải thu vào NSNN đã được quy định trong luật nhưng thực tế vì lý do nào đó không được nộp vào NSNN. + Thất thu thuế tiềm năng: Được hiểu là những khoản tiền thuộc khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế đáng lẽ phải được khai thác động viên vào NSNN nhưng không được quy định trong các luật thuế. - Căn cứ vào đối tượng gây ra thất thu thuế: Theo tiêu chí này, thất thu thuế bao gồm: thất thu thuế trong DNL, thất thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, thất thu thuế trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh và thất thu thuế ở các doanh nghiệp nước ngoài.
- Căn cứ vào nội dung thất thu thuế: Thất thu thuế giá trị gia tăng, thất thu thuế tiêu thu đặc biệt, thất thu thuế xuất nhập khẩu, thất thu thuế TNDN, thất thu thuế thu nhập cá nhân, thất thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp … - Căn cứ vào nguyên nhân gây ra thất thu: Thất thu thuế gồm các loại chủ yếu sau: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Thất thu thuế do chính sách: Một là, chính sách thuế chưa bao quát hết được nguồn thu: một số khoản thu hoặc một số đối tượng chưa được chính sách thuế điều tiết điều này đã gây ra thất thu thuế tiềm năng. Hai là, một số điểm quy định trong chính sách thuế chưa rõ ràng, gây nhiều tranh cãi làm cơ sở cho việc trốn, tránh thuế. + Thất thu thuế do quản lý: Loại thất thu này do trình độ quản lý của cơ quan thuế chưa đồng bộ và chuyên nghiệp; cán bộ thuế không giữ vững được phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp; sự phối hợp với các cơ quan liên quan chưa ăn khớp; công tác thanh tra, kiểm tra chưa được tiến hành liên tục; hướng dẫn thủ tục hành chính, giải đáp thắc mắc không rõ ràng. + Thất thu thuế do trốn thuế: Đây là hình thức thất thu do hành vi trốn thuế của người nộp thuế gây ra.
Nhiều đối tượng cố tình kê khai không đúng số thuế đáng lẽ phải nộp theo quy định của pháp luật cũng như thực tế mà các doanh nghiệp đang kinh doanh. + Thất thu thuế do khai thiếu thuế: Đây là trường hợp thất thu do người nộp thuế kê khai thiếu so với tài liệu đã hạch toán trong sổ kế toán. Trường hợp này, người nộp thuế không cố tình che giấu để trốn thuế. + Thất thu thuế do tránh thuế: Đây là trường hợp thất thu do quy định pháp luật không chặt chẽ nên người nộp thuế lợi dụng để làm giảm số thuế phải nộp nhưng không vi phạm pháp luật.
+ Thất thu thuế do các nguyên nhân khách quan: Đây là loại thất thu do các nguyên nhân không thuộc ý muốn chủ quan của cơ quan thuế và cơ quan liên quan như: trình độ hiểu biết của người nộp thuế, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội… 1. Nguyên nhân của thất thu thuế Tình trạng thất thu thuế nói trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có một số nguyên nhân chủ yếu sau: - Xuất phát từ người nộp thuế: Trình độ nhận thức, hiểu biết về nghĩa vụ thuế khóa của người nộp thuế còn nhiều hạn chế. Hoặc có thể do người nộp thuế am hiểu về thuế nhưng động cơ muốn nộp thuế ít đã thúc giục người nộp thuế dùng mọi thủ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn, mánh khóe để trốn thuế điều này đồng nghĩa với ý thức tự giác trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế còn yếu kém. - Xuất phát từ cơ quan quản lý: + Trình độ của cán bộ còn yếu nên không thể phát hiện ra những gian lận, sai sót trong các hóa đơn, chứng từ, sổ sách.
Do vậy, người nộp thuế có thể trốn thuế. + Các cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý thuế. Chính quyền các cấp chưa tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thuế làm việc. + Công tác kiểm tra, thanh tra thuế mặc dù đã được cải thiện nhưng hiệu quả chưa cao.
Tình trạng chưa nắm bắt đủ thông tin, đánh giá đúng đối tượng mà vẫn tiến hành kiểm tra, thanh tra do vậy không phát hiện được vi phạm của các cơ sở. Bên cạnh đó việc xử lý các hành vi trốn thuế, lậu thuế còn chưa nghiêm, mức xử phạt còn quá nhẹ không có tính răn đe khiến cho tình trạng trốn thuế vẫn tái phạm. - Xuất phát từ chính sách, quy trình, thủ tục hành chính: + Cơ chế hành thu bất hợp lý. Quy trình quản lý thuế không chặt chẽ có thể tạo kẽ hở cho trốn thuế hoặc thông đồng giữa người nộp thuế với công chức thuế.
+ Chính sách thuế thay đổi liên tục, diễn giải không rõ ràng còn có nhiều thiếu sót, kẽ hở dẫn đến việc hiểu sai luật thuế do đó dẫn đến thực hiện sai. Chưa có các chính sách nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu bền vững và hợp lý. - Xuất phát từ các điều kiện khách quan: + Đặc điểm sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực: Những doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực: kinh doanh thương mại, hoạt động vận chuyển hành khách, du lịch khách sạn…Những doanh nghiệp này có tình hình kinh doanh phức tạp, khó quản lý do đó dễ xảy ra tình trạng trốn thuế, gian lận thuế mà cơ quan thuế không phát hiện ra được. + Điều kiện tự nhiên: Những doanh nghiệp hoạt động ở những địa bàn kinh tế phức tạp, khó khăn có xu hướng luồn lách, trốn thuế ngày càng tăng nếu không có sự quản lý tốt.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Sự bất ổn về kinh tế - xã hội cũng là một trong những nguyên nhân gây ra thất thu thuế. Thực tế cho thấy rằng, đất nước nào có tình hình kinh tế, xã hội bất ổn sẽ tạo điều kiện cho gian lận thuế, trốn thuế. Ngược lại, đất nước nào có tình hình kinh tế, xã hội ổn định sẽ tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh, tạo ra hành lang pháp lý mang tính răn đe từ đó làm giảm hành vi trốn thuế. Hậu quả của thất thu thuế Thất thu thuế gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng không chỉ trong ngành Thuế mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội.
Cụ thể là: - Thất thu thuế làm thâm hụt NSNN do đó ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu của Chính phủ. Chính phủ đã đề ra kế hoạch rõ ràng, cụ thể để thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, đầu tư cho sản xuất kinh doanh và đã thực hiện được một phần hay toàn bộ công việc nhưng khi cần tiền để chi trả thì không có. Điều này đã đặt Nhà nước vào thế bị động và cần thiết phải thực hiện các biện pháp để có thể huy động đủ tiền như: in thêm tiền, vay mượn các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu Chính phủ… - Thất thu thuế còn gây bất bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế, tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Thất thu thuế nghĩa là đã có các đối tượng thực hiện hành vi gian lận để làm giảm số thuế phải nộp của mình.
Những đối tượng có điều kiện như nhau, có số thuế phải nộp như nhau nhưng do thực hiện hành vi gian lận mà số thuế thực nộp vào NSNN lại khác nhau. Tình trạng này là bất công với những người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế. - Thất thu thuế tạo ra tiền lệ coi thường pháp luật thuế.Trong nền kinh tế vẫn có nhiều doanh nghiệp, cá nhân có ý thức tuân thủ tự nguyện pháp luật thuế. Nhưng nếu thất thu thuế do trốn thuế ngày càng gia tăng, sẽ khiến những doanh nghiệp, cá nhân chấp hành tốt pháp luật thuế lưỡng lự trong việc tiếp tục chấp hành tốt với vi phạm để giảm số thuế phải nộp.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp lớn 1. Khái niệm và các hình thức doanh nghiệp lớn Theo Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì khái niệm doanh nghiệp được xác định: Doanh nghiệp (DN) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Mỗi loại hình DN có những đặc điểm hoạt động đặc trưng.
Ở các nước đang phát triển, nhu cầu thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đi tắt đón đầu đòi hỏi một lượng vốn lớn, để đảm nhận việc này thường là các doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể tham gia tự động mà cần có một người đi đầu chỉ lối, đảm bảo sự tồn tại và phát triển khi phải cạnh tranh với đối thủ có quy mô lớn hơn. Doanh nghiệp lớn là bộ phận kinh tế có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế. Sự xuất hiện doanh nghiệp lớn ở các nước có thể bắt nguồn từ những lý do khác nhau, nhưng hiện nay doanh nghiệp vẫn được coi là cỗ máy cái của nền kinh tế, vì những đóng góp của doanh nghiệp lớn trong việc tạo ra của cải cho xã hội, đóng góp số thu cho NSNN, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động.
Sự tồn tại của các doanh nghiệp lớn như là một tất yếu khách quan. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có quy định cụ thể về khái niệm và những tiêu chí chuẩn để xác định doanh nghiệp quy mô lớn mà chỉ có quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dựa trên phương pháp loại trừ căn cứ theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, TS.