CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. Định nghĩa Theo OHSAS 18001:2007 Mối nguy hiểm là các điều kiện và các yếu tố có ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và những người xung quanh liên quan: chấn thương hay bệnh tật. OHSAS 18000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế về An toàn Sức khỏe nghề nghiệp do Viện tiêu chuẩn Anh (BSI) ban hành, được chấp nhận và có giá trị trên phạm vi toàn cầu. Việc áp dụng và được chứng nhận theo OHSAS 18001:2007 đối với một doanh nghiệp đảm bảo đơn vị đó có hệ thống quản lý tốt về An toàn Sức khỏe nghề nghiệp và có khả năng cung cấp một môi trường làm việc an toàn, tuân thủ các yêu cầu pháp luật và yêu cầu liên quan khác, đến người lao động trong doanh nghiệp và nhân viên của nhà thầu.
Qua đó mối nguy được định nghĩa theo OHSAS được chia ra làm 2 nguồn là: Điều kiện và các yếu tố Trong đó: Điều kiện: Biểu thị sự thúc đẩy khả năng xảy ra của một yếu tố không an toàn làm gia tăng khả năng dẫn đến tai nạn lao động. Yếu tố: Là tất cả cá sự vật sung quanh môi trường lao động, những yếu tố không an toàn sẽ trở thành mối nguy hiểm cho người lao động. Theo ISO 45001:2018 mối nguy được định nghĩa là nguồn có khả năng gây ra chấn thương và bệnh tật. Mối nguy được hiểu theo một nghĩa rộng hơn, bao quát hơn OHSAS 18001:2007 “Nguồn có khả năng gây ra” bao gồm tất cả những điều kiện, yếu tố, hành động mà từ đó có thể gây nên những chân thương và bệnh tật cho người lao động.
Hậu quả của mối nguy Cùng định nghĩa về mối nguy, nhưng đối tượng của ISO có thể thấy rộng hơn đối tượng mà OHSAS thể hiện. Xét về mặt căn nguyên OHSAS 18001:2007 và ISO 450001:2018 đều có tên chung là “An toàn, sức khỏe nghề nghiệp”. Nên đối tượng mà hai tiêu chuẩn này nhắm tới đều là sự an toàn và sức khỏe cho người lao động. Có thể 1 do an thấy được qua đối tượng mà 2 tiêu chuẩn này nhắc đến trong định nghĩa này là đều là chấn thương và bệnh tật cho con người, không nhắc gì đến các hậu quả khác của mối nguy như tổn hại về mặt tài sản, môi trường… Đối với hoạt động của doanh nghiệp, người chủ doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến những mối nguy gây ảnh hưởng đến người lao động, mà họ còn quan tâm đến cả những mối nguy ảnh hưởng đến tài sản doanh nghiệp hay ảnh hưởng đến môi trường gây ra các thiệt hại về mặt danh tiếng công ty, tính tuân thủ luật và các ảnh hưởng khác.
Một số tiêu chuẩn quốc tế khác có nhắc đến sự ảnh hưởng của mối nguy đến các khía cạnh còn thiếu từ ISO 45001:2018 hay OHSAS 18001:2007 như tiêu chuẩn Bluesign được áp dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể dưới đây. Nhà máy sản xuất và cung ứng hóa chất; Nhà máy dệt; Nhà máy sản xuất hàng may mặc; Nhà máy xử lý hoạt động liên quan đến lĩnh vực kim loại; Nhà máy thuộc da. Theo Bluesign: Mối nguy là nguồn gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người hoặc hệ thống sinh thái [1]. Điểm mạnh của hệ thống quản lý Bluesign là ngoài khía cạnh sức khỏe con người, hệ thống này còn quan tâm đến những tác động từ doanh nghiệp đến với hệ sinh thái.
Tuy nhiên điểm yếu là hệ thống quản lý Bluesign vẫn không nêu lên được hậu quả từ mối nguy dẫn đến thiệt hại về mặt tài sản, điều mà chủ các doanh nghiệp quan tâm. Theo một nguồn tài liệu khoa học khác: Mối nguy là một khuynh hướng, điều kiệu hoặc tình huống không an toàn có khả năng gây nên tai nạn hoặc sự cố. Fuller, 2004) Điểm đáng chú ý của lập luận này là hậu quả gây ra từ mối nguy được chia rõ ràng thành 2 khía cạnh là tai nạn và sự cố. Theo Nghị Định 45/2013/NĐ-CP [7]: Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn hại cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, gắn liền với việc thực 2 do an hiện công việc, nhiệm vụ lao động, kể cả trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc.
Tai nạn lao động được chia thành 3 loại: Tai nạn lao động chết người, tai nạn lao động nặng, tai nạn lao động nhẹ. Sự cố là tai nạn sảy ra trong quá trình lao động (không bao gồm tai nạn lao động) gây thiệt hại lớn về tài sản của người lao động, người sử dụng lao động. 2 khía cạnh về tai nạn và sự cố được quy định rõ ràng tại Nghị Định 45/2013/NĐ- CP, qua đó tai nạn lao động được định nghĩa liên quan đến sức khỏe của người lao động, còn sự cố được định nghĩa liên quan đến sự thiệt hại của tài sản. Tổng kết các hậu quả mà mối nguy gây ra mà chúng ta cần quan tâm bao gồm: Tai nạn lao động: Gây ra những chấn thương và bệnh tật cho người lao động Sự cố: Gây thiệt hại đến tài sản của công ty, cụ thể là tài sản về mặt vật chất, máy móc hoặc ảnh hưởng đến thời gian cho hoạt động sản xuất.
Tác động đến môi trường xung quanh: Bao gồm cả các tác động từ những mối nguy đến với môi trường đất, nước, không khí xung quanh và cả các tác động đến hệ sinh thái, sinh vật. Trong đó khía cạnh tai nạn lao động là khía cạnh cần được quan tâm nhiều nhất vì nó ảnh hướng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người lao động. Theo con số thống kê qua các năm đến từ các tài liệu nghiên cứu khoa học. 1 tai nạn chết người 29 tai nạn nghiêm trọng 300 tai nạn nhưng không có chấn thương 3 do an Hình 1.1: Thống kê sự liên quan giữa số liệu cac vụ tai nạn [3] Sau Herbert William Heinrich thì một nhà nghiên cứu khác là Frank E.
đã thống kê số liệu tai nạn và xây dựng một kim tự tháp về số liệu tai nạn chi tiết hơn. 1 tai nạn chết người 10 tai nạn cấp độ nặng 30 tai nạn câp độ nhẹ 600 trường hợp cận tai nạn Hình 1.2: Thống kê sự liên quan giữa số liệu các vụ tai nạn [13] Ta thấy được từ hậu quả tai nạn lao động của mối nguy, tai nạn có thể được chia ra làm 4 cấp độ. Theo số tai nạn được Frank E. thống kê thì cứ có 600 trường hợp cận tai nạn xảy ra sẽ dẫn đến 30 tai nạn cấp độ nhẹ, trong 30 tai nạn cấp độ nhẹ kể trên sẽ có 10 tai nạn cấp độ nặng mà trong đó có 1 trường hợp dẫn đến tử vong.
Điều 9 Nghị định 39/2016/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn vệ sinh lao động tai nạn được chia thành 3 cấp độ tương ứng với hình tháp của của Frank E. thể như sau [6]: Tai nạn lao động làm chết người lao động là tai nạn lao động mà người lao động bị chết thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chết tại nơi xảy ra tai nạn; Chết trên đường đi cấp cứu hoặc trong thời gian cấp cứu; Chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của vết thương do tai nạn lao động gây ra theo kết luận tại biên bản giám định pháp y; Người lao động được tuyên bố chết theo kết luận của Tòa án đối với trường hợp mất tích. 4 do an Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nặng là tai nạn lao động làm người lao động bị ít nhất một trong những chấn thương được quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. Tai nạn lao động làm người lao động bị thương nhẹ là tai nạn lao động không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.
Thiếu sót ở Nghị Định 39 so với mức độ tai nạn đang được áp dụng ở các doanh nghiệp và các hệ thống quản lý an toàn khác ở các trường hợp cận tai nạn.35 của ISO 45001:2018 có nêu rõ: Một sự cố xảy ra tuy nhiên không có bất kỳ tổn hại nào về mặt chấn thương hay bệnh tật được gọi là cận tai nạn [10]. Nhận diện mối nguy Muốn nhận diện được mối nguy trước tiên cần phải có những tư liệu cần thiết, phù hợp với đối tượng cần đánh giá. Các cơ sở tư liệu để đánh giá mối nguy gồm có 1 • Luật và các văn bản dưới luật 2 • Hệ thống các quy chuẩn và tiêu chuẩn 3 • Quy định, hướng dẫn, nội quy công ty 4 • Các báo cáo sự cố, tai nạn trước đó 5 • Quy trình sản xuất 6 • Các báo cáo, nghiên cứu khoa học Sơ đồ 1.1: Thứ tự các tài liệu nghiên cứu cho hoạt động nhận diện rủi ro Từ các cơ sở dữ liệu để nhận diện mối nguy, cần có các công cụ thích hợp để có thể nhận diện được mối nguy theo một cách có hệ thống. Hiện nay đã có rất nhiều công cụ để nhận diện mối nguy, tuy nhiên phải sử dụng và kết hợp chúng một cách phù hợp.
Sơ đồ xương cá 5 do an Sơ đồ xương cá (Fish Bone Diagram) hay còn gọi là sơ đồ Nguyên nhân – Kết quả, là một công cụ dùng để phân tích những khó khăn nảy sinh, giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề một cách toàn diện và tìm ra các nguyên nhân tiềm ẩn của một vấn đề. Điểm mạnh của sơ đồ này đó là có khả năng chia mối nguy vào các nhóm. Môi trường Máy móc Nguyên vật liệu Hậu quả của vấn đề Đo lường Phương pháp Con người Sơ đồ 1.2: Minh họa cho sơ đồ xương cá Mục đích chính của sơ đồ xương cá là xác định nhóm nguyên nhân chính: Ứng với mỗi nhóm nguyên nhân chính vẽ một nhánh xương phụ vào sơ đồ. Thường nhóm nguyên nhân chính sẽ gồm các nhóm như sau: Con người, Máy móc thiết bị, Nguyên vật liệu, Môi trường, Hệ thống chính sách, Thông tin, Đo lường… Ứng với mỗi nhóm nguyên nhân chính tìm ra những nguyên nhân cụ thể có thể có.
Nếu nguyên nhân quá phức tạp có thể chia nhỏ thành nhiều cấp. Phân tích sơ đồ: Sơ đồ đã xây dựng là một danh sách đầy đủ các nguyên nhân có thể xảy ra, chúng ta có thể tiến hành khảo sát, kiểm tra, đo lường…để xác định đâu là nguyên nhân chính rồi từ đó có kế hoạch cụ thể để sửa chửa, .