Chương 1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN TỪ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NGÀNH THƯƠNG MẠI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. SỰ RA ĐỜI VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam đã có từ năm 1991, và bắt đầu thực hiện từ năm 1992 bằng Chỉ thị 202 ngày 8-6-1992 và Chỉ thị 84 ngày 4-8-1993 của Thủ tướng Chính phủ. Đối với nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ CPH DNNN là một vấn đề hoàn toàn mới, cho nên thời gian đầu còn làm thí điểm. Những doanh nghiệp được chọn thí điểm thực hiện CPH là những doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa, kinh doanh có lãi và tự nguyện CPH.
Suốt 4 năm (1992-1996) cả nước chỉ CPH được 5 DN. Nếu 6 năm kể từ năm 1992 đến năm 1998, chúng ta chỉ cổ phần hóa được 30 doanh nghiệp và 5 năm sau đó, kể từ 1998 đến trước Hội nghị Trung ương III (khóa IX) có 523 doanh nghịêp Nhà nước được cổ phần, thì chỉ trong 4 năm trở lại đây, chúng ta đã hoàn thành cổ phần hóa 2.437 DNNN, nâng tổng số DNNN được CPH lên đến 2.890 đơn vị, trong tổng số 5.655 DNNN cần được CPH. Nhìn chung, trong tiến trình CPH được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, cộng với sự hưởng ứng từ phía các DNNN đã đạt được những thành công nhất định. Qua khảo sát, hơn 850 công ty của Nhà nước sau hơn 1 năm cổ phần hóa cho thấy: vốn điều lệ tăng 44%, doanh thu tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập của người lao động tăng 12%.
Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 1997 sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng trở thành 6 đơn vị trực thuộc Trung ương, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước mới được Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố đặc biệt quan tâm, trong đó trọng tâm là công tác CPH các doanh nghiệp Nhà nước thuộc thành phố quản lý, trong đó 10 doanh nghiệp thương mại sau khi sắp xếp, sáp nhập còn lại 05 doanh nghiệp (DN), đến nay có 04 DN thực hiện xong CPH đã đi vào hoạt động, 01 DN đang chuẩn bị CPH. Bốn doanh nghiệp CPH xong đó là: 1- Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối là 41,54%). 2- Công ty CP cung ứng tàu biển Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối 67,68%). 3- Công ty CP công nghệ phẩm Đà Nẵng (100% vốn cổ đông).
4- Công ty CP vật tư tổng hợp Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối 53,72%). Sự ra đời của công ty cổ phần từ CPH DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng nằm trong kế hoạch tổng thể của lãnh đạo Thành ủy, UBND TP về triển khai xây dựng Đề án và tổ chức thực hiện CPH theo chủ trương của Chính phủ. Uỷ Ban Nhân Dân thành phố thành lập Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhằm thường xuyên theo dõi, đôn đốc và chỉ đạo kịp thời tiến độ thực hiện sắp xếp doanh nghiệp theo đề án được duyệt và theo đúng quy trình. Đến cuối năm 2005 đã có 21 doanh nghiệp của thành phố Đà Nẵng được CPH (trong đó DN thương mại là 04), bằng 65% kế hoạch được duyệt đến cuối năm 2006.
Về các bước thực hiện tiến trình CPH đối với các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng cũng nằm trong qui trình chung của tất cả các DNNN khi chuyển sang công ty CP và có thể được chia thành 4 bước: Bước 1: Chuẩn bị CPH Bước 2: Xây dựng phương án CPH Bước 3: Phê duyệt và triển khai thực hiện phương án CPH Bước 4: Ra mắt công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh 7 Từ các bước có thể khái quát bằng sơ đồ qui trình chuyển đổi DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng thành công ty cổ phần như sau: Sơ đồ 1.1: Qui trình chuyển đổi DNNN thành CTCP từ CPH DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng (1) Lập danh sách DNNN cổ phần hoá Chuẩn bị (2) Chuẩn bị và thành lập Ban đổi mới quản lý CPH tại doanh nghiệp (3) Phổ biến và tuyên truyền chủ trương về CPH (4) Chuẩn bị các tài liệu (5) Đánh giá giá trị, phân biệt tài sản doanh nghiệp Xây dựng phương án (6) Quyết định giá trị thực tế của doanh nghiệp CPH (7) Dự kiến phương án CPH & dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của CPH (8) Phê duyệt phương án và quyết định chuyển Phê duyệt và DNNN thành CTCP triển khai thực hiện (9) Thông tin về cổ phần hoá của doanh nghiệp phương án CPH (10) Đại hội cổ đông và Bầu hội đồng quản trị Ra mắt (11) Bàn giao công việc CTCP, đăng ký kinh doanh (12) Những công việc còn lại 8 1. Tình hình kinh doanh Sau CPH đa số các doanh nghiệp thương mại của thành phố Đà Nẵng SXKD ổn định và có hiệu quả, đã hình thành loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu về vốn, thực hiện được sự giám sát chặt chẽ hơn trong SXKD, huy động được nhiều vốn từ xã hội, tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức tổ chức quản lý mới cùng với đội ngũ cán bộ quản lý thích nghi hơn với cơ chế thị trường. Nhiều doanh nghiệp đã tự huy động và phát hành cổ phiếu để tăng vốn Điều lệ, tuy không lớn nhưng đã thể hiện sự tự chủ trong việc huy động các nguồn vốn phục vụ cho kinh doanh và thể hiện sự thống nhất ý thức trong việc xây dựng và phát triển đơn vị. Từ những chuyển biến nói trên đã nâng cao rõ rệt hiệu quả SXKD.
Qua kết quả điều tra các doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau khi CPH trong thời gian qua và 6 tháng đầu năm 2006 cho thấy, bước đầu tuy có khó khăn nhưng nhìn chung vốn bình quân của doanh nghiệp tăng, có ¾ doanh nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau CPH hoạt động SXKD có lãi đó là: Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng, Công ty CP cung ứng tàu biển Đà Nẵng, Công ty CP công nghệ phẩm Đà Nẵng, tỷ suất lãi bình quân trước thuế tăng, mức nộp ngân sách tăng, thu nhập bình quân của người lao động tăng, năng suất lao động tăng so với khi chưa CPH. Các công ty đều thực hiện chia cổ tức hàng năm và mức cổ tức cao hơn so với lãi suất ngân hàng. Bên cạnh 03 đơn vị hoạt động SXKD có hiệu quả, còn một đơn vị KD không có hiệu quả và có nguy cơ phá sản đó là: Công ty CP vật tư tổng hợp Đà Nẵng, nguyên nhân phá sản có nhiều nhưng chủ yếu là do khi tiến hành CPH không làm tốt khâu kiểm kê đánh giá lại tài sản doanh nghiệp, sau CPH thiếu xây dựng Qui chế quản lý doanh nghiệp như: Qui chế hoạt động SXKD, Qui chế quản lý và sử dụng vốn., mạng lưới hoạt động SXKD chưa gọn nhẹ, 9 kém hiệu quả có những cửa hàng, chi nhánh thua lỗ kéo dài không phát hiện và xử lý kịp thời, công tác cán bộ còn xem nhẹ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhận thức về CPH chưa đúng, ý thức tổ chức kỹ luật kém, thiếu trách nhiệm trong công tác được giao, lãnh đạo doanh nghiệp theo cảm tính, nghiệp vụ chuyên môn kém, buông lỏng các nguyên tắc quản lý tài chính đã đưa doanh nghiệp đi đến phá sản, mất vốn Nhà nước và cổ đông, người lao động mất việc làm, đời sống khó khăn. Cụ thể qua khảo sát sự ra đời và tình hình kinh doanh của các đơn vị được thể hiện như sau: 1) Công ty cổ phần thương mại - dịch vụ Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối là 41,54%) Công ty cổ phần thương mại dịch vụ Đà Nẵng CPH theo theo Nghị định 64 của Chính phủ và được thành lập theo Quyết định số 27/2004/QĐ-UB ngày 24 tháng 2 năm 2004 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt phương án CPH DNNN chuyển Công ty thương mại - dịch vụ Đà Nẵng thành Công ty CP thương mại - dịch vụ Đà Nẵng, tiến hành Đại hội cổ đông ngày 31 tháng 3 năm 2004 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2004.
Sau CPH, Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban giám đốc (BGĐ) công ty đã có những định hướng cơ bản cho hoạt động của đơn vị, đồng thời nhanh chóng tiến hành những biện pháp cụ thể để sắp xếp ổn định tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Phấn đấu tạo dựng thương hiệu của đơn vị làm nền tảng cho việc ổn định phát triển kinh danh lâu dài, mở rộng thị trường, ổn định và củng cố hệ thống tiêu thụ, xây dựng nhóm mặt hàng chủ lực có tính cạnh tranh cao nhằm đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, bên cạnh đó gắn kết với nhà SX tạo mối quan hệ hợp tác bền vững trong lĩnh vực sản xuất (SX), nâng cao chất lượng loại hình kinh doanh (KD) dịch vụ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, 1 0 không ngừng nâng cao mức sống đối với người lao động, đảm bảo kinh doanh có lãi để chia cổ tức cho cổ đông. Kết quả khảo sát cụ thể tình hình kinh doanh của công ty thương mại dịch vụ như sau: Bảng 1.1: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP thương mại dịch vụ ĐN trước và sau khi cổ phần hóa.
Năm trước 6T TT Chi tiêu ĐVT Các Năm năm sau 2005CPH khi CPH 2006 1 Tổng doanh thu 1000đ 200.000 2 Kim ngạch XK USD 80.900 4 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 107.970 5 Thu nhập bình quân 1000đ 853 1.500 6 Cổ tức/tháng % 0,6 0,6 0,6 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP thương mại dịch vụ từ khi CPH đến nay) Qua bảng 1.1 ta nhận thấy sau khi chuyển sang CTCP đơn vị hoạt động tương đối ổn định. + Tình hình doanh thu: doanh thu của công ty tăng, năm 2005 doanh thu đạt 81,224 tỷ đồng cao hơn doanh thu năm 2004 (61,776 tỷ đồng) là 19,448 tỷ đồng và mức tăng là 31,48%. + Tình hình lợi nhuận, kim ngạch XNK: kinh doanh có lãi nhưng không tăng, KNXK tăng. + Tình hình thu nhập: Sau khi CPH lợi nhuận tuy không tăng nhưng số lao động giảm nên tình hình thu nhập tăng lên so với trước, từ thu nhập bình quân năm 2004 là 1.000 đồng với mức tăng là 43,41%.
1 1 + Về cổ tức: Cổ tức chia cho cổ đông cũng tăng năm 2004 là 152.