CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Môt số vấn đề cơ bản - Môi trường: là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật - Hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT): là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành [5]. - Kế hoạch bảo vệ môi trường (KHBVMT): Kế hoạch bảo vệ môi trường tập trung vào những yếu tố gây ra những tác động gì đến môi trường, qua đó có những nhận định đánh giá cũng như các giải pháp hạn chế tối đa mức ô nhiễm môi trường, thông qua những cam kết thực hiện như xử lý nước thải, khí thải, chất thải. Quy định về KHBVMT trong Nghị định 18/2015/NĐ-CP, Thông tư 27/2015/TT- BTNMT, Luật bảo vệ môi trường 55/2014/QH13 quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong bảo vệ môi trường. - Nước mặt: là một dạng tài nguyên nước.
Theo Luật tài nguyên nước năm 2012, nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo. Nước mặt có thể được chứa vào các bể chứa tự nhiên ( sông, ao, hồ.) hoặc nhân tạo (các đập nước) được đặc trưng bằng bề mặt trao đổi nước – khí quyển, hầu như bất động có chiều sâu đáng kể và thời gian dừng lại khá lớn. Việc dự trữ nước mặt tại các bể chứa, đập để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong đó có xử lý nước sinh hoạt [4]. 6 - Chất thải rắn: là bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa [7].
- Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): là các chất rắn mà con người thải ra ngoài môi trường sau khi được sử dụng trong các hoạt động sống, sinh hoạt, sản xuất. Có nhiều nguồn phát sinh CTRSH như từ các hộ gia đình, trường học, bệnh viện, khu thương mại, công trình xây dựng, khu xử lý chất thải,. Bất kỳ hoạt động nào của con người đều có phát sinh chất thải, thành phần rác thải lớn nhất được con người thải bỏ là các chất hữu cơ do đó rất dễ gây ô nhiễm môi trường. Khối lượng, thành phần và tính chất của rác thải là khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển khoa học – kỹ thuật và kinh tế - xã hội của từng quốc gia và vùng lãnh thổ.
Vì vậy, CTRSH còn có thể định nghĩa là phần vật chất hữu cơ còn sót lại sau khi phục vụ cho các hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và bị thải vào môi trường [17]. - Quản lý chất thải: là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải.2 Kinh nghiệm bảo vệ môi trường 1.1 Kinh nghiệm bảo vệ môi trường của một số nước Nhật Bản Nhật Bản đã từng chịu áp lực hết sức to lớn về vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm do CTR và ô nhiễm nguồn nước. do tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nhanh trong những năm 60 của thế kỷ trước. Các nhà quản lý môi trường Nhật Bản sau đó đã phải nhìn nhận vấn đề và nghiêm túc nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà vẫn đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao đi đôi với phát triển kinh tế – xã hội.
Nhật Bản đã quyết liệt thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường khác nhau bằng việc vận động và sử dụng rất nhiều nguồn lực để có được những thành tựu phát triển bền vững như hôm nay. Các giải pháp dưới đây đã được Nhật Bản thực hiện và rất đáng để các nước học hỏi: 7 Quản lý chặt chẽ bằng việc xây dựng khung pháp lý và các chính sách quản lý [14] Các giải pháp nhằm cải thiện hệ thống pháp luật và xây dựng một bộ máy quản lý nhà nước về môi trường đã được Chính phủ Nhật Bản tiến hành có nhiệm vụ giải quyết 3 vấn đề lớn cùng lúc: kiểm soát được vấn đề môi trường và giảm thiểu ô nhiễm; giảm thiểu chi phí xử lý ô nhiễm và chi phí về sức khỏe của cộng đồng; giảm giá thành sản xuất và giảm chi phí năng lượng. Nhờ tư duy tiến bộ về quản lý sản xuất, Nhật Bản đã tính toán để có thể giảm thiểu phát sinh chất thải ngay từ đầu, đồng thời đạt hiệu quả sản xuất cao nhất mà lại giảm được nổi lo xử lý chất thải cuối đường ống. Vì vậy, một loạt các quy định nghiêm ngặt về các tiêu chuẩn phát thải khí thải, nước thải và các tiêu chuẩn về giám sát ô nhiễm chất độc hại đã được Chính phủ Nhật Bản đã ban hành.
Đặc biệt chính sách giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường được coi trọng, khuyến khích mọi người từ các doanh nghiệp, các tổ chức và mỗi cá nhân phải cùng nhau nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát ô nhiễm môi trường. Nhật Bản ban hành hệ thống Luật Môi trường cơ bản từ năm 1993, bao gồm các quy định về hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, các quy chuẩn - tiêu chuẩn quốc gia về chất độc hại, chất lượng môi trường, những biện pháp kiểm tra và kiểm soát ô nhiễm đối với môi trường sản xuất công nghiệp, quy định về biện pháp chế tài đối với các cơ sở, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm… Nhật Bản ban hành luật về kiểm soát ô nhiễm không khí [14]: tập trung vào 3 vấn đề chủ yếu là về tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí; các tiêu chuẩn và quy định phát thải; tải lượng ô nhiễm không khí ở các thành phố, tiêu chuẩn kiểm soát tổng lượng phát thải, tiêu chuẩn về xây dựng, về đường biên và tiêu chuẩn đối với các nồng độ trong môi trường không khí. Bên cạnh đó, trong luật này còn đưa ra các biện pháp ứng phó với các chất ô nhiễm không khí nguy hại, quy định về các phương tiện lưu thông trên đường cũng như kiểm soát các nguồn lưu động. Nhật bản ban hành các quy định về tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước áp dụng cho mọi nguồn nước công cộng, tùy theo mục đích sử dụng mà được chia thành 8 nhiều nhóm nước ở ao, hồ, sông và ô nhiễm nước cũng được chia thành nhiều loại ô nhiễm khác nhau tùy theo cơ chế và mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm.
Quy chế kiểm soát nước thải được quy định nhằm giảm tải lượng phát thải đối với nước thải công nghiệp và việc đặt ra một tiểu chuẩn về nồng độ cho phép ô nhiễm trong nước thải được là một trong những biện pháp kiểm soát nước thải thông dụng nhất. Nhật Bản vận động được sự hưởng ứng mạnh mẽ của cộng đồng và các tổ chức xã hội [14] Nhật Bản vào giai đoạn bắt đầu tăng trưởng kinh tế, các hoạt động quản lý ô nhiễm hầu như không được bộ phận tư nhân quan tâm hưởng ứng. Tuy nhiên, do hàng loạt các doanh nghiệp gặp rắc rối về pháp lý liên quan đến vấn đề ô nhiễm, bên cạnh đó Chính phủ Nhật Bản cũng ban hành các chính sách hỗ trợ tài chính cho các giải pháp môi trường nên đã giúp các doanh nghiệp có cách nhìn nhận đúng đắn về quản lý môi trường đi đôi với phát triển đô thị. Ngoài việc ban hành một hệ thống chính sách kiểm soát ô nhiễm nghiêm ngặt, từ Chính phủ đến các cấp quản lý ở địa phương, cũng như nhân dân Nhật Bản đều chung tay ra sức bảo vệ môi trường.
Nhật Bản có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Các thông điệp về bảo vệ môi trường được tuyên truyền khắp nơi trên đất nước Nhật Bản, trên các dãy phố, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, do đó ý thức về bảo vệ môi trường để xây dựng một tương lai xanh cho thế hệ mai sau đã thấm sâu vào tư tưởng của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản. Đồng thời, họ cũng nhận thức được rằng việc quản lý ô nhiễm môi trường là trách nhiệm xã hội và giúp cho việc kinh doanh của họ có thể phát triển thuận lợi. Do đó, tổng số tiền đầu tư của bộ phận tư nhân vào các cơ sở kiểm soát ô nhiễm tăng lên đáng kể và các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng hệ thống kiểm soát ô nhiễm và tiết kiệm năng lượng cho doanh nghiệp của mình.
Phổ cập giáo dục bảo vệ môi trường [14] Khi đi làm, người Nhật thường mang theo một ba lô hoặc túi xách bằng giấy, có trang bị cả ngăn chứa rác. Ý thức phân loại rác của người dân Nhật Bản rất tốt, họ 9 cho giấy vụn, chai nhựa, vỏ lon nước ngọt vào từng thùng rác khác nhau theo đúng quy định. Người dân Nhật Bản rất có tinh thần đề cao việc sử dụng lại đồ tái chế, nhiều cửa hàng chuyên thu mua đồ cũ có thể tái sử dụng được, sau đó xử lý làm sạch, sửa chữa, phục hồi các vật dụng trở nên mới và bán cho những người có nhu cầu. Những vật dụng tái chế này có giá thành tương đối rẻ nên cũng thu hút được số đông người.
Đôi lúc cung không đủ cầu, các sản phẩm tái chế không đủ đáp ứng cho tất cả khách hàng muốn mua, các cửa hàng còn tổ chức việc bắt thăm để chọn ra người khách hàng may mắn mua được món đồ tái chế đó [15]. Người Nhật thể hiện rất rõ ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường thông qua hành vi ứng xử của họ nơi công cộng. Chẳng hạn như họ không bao giờ vứt rác bừa bãi, rác được bỏ vào các thùng rác tương ứng với loại rác được phân loại. Ngoài ra, bất kỳ một người dân nào có nuôi thú cưng, khi dắt thú cưng đi ra đường thì họ sẽ luôn mang theo túi đựng rác để sẵn sàng xử lý sẽ trong tình huống vật nuôi ị bậy trên đường.