Chương 5 GIÁM SÁT, TRÁNH LỖI V[ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG Trong chương n{y, chúng ta l{m quen với các khái niệm kh|i qu|t chung để có một cái nhìn tổng thể về lĩnh vực đảm bảo chất lượng dịch vụ đ|m m}y. Mặc dù mục tiêu chung của giáo trình là giới thiệu kỹ thuật cơ sở, riêng trong chương n{y, để có một cái nhìn bao quát, ta sẽ thử thâm nhập v{o lĩnh vực dưới con mắt của một chuyên gia cấp cao đảm bảo chất lượng cho người sử dụng đ|m m}y, người có trách nhiệm phải xây dựng một giải pháp an toàn tổng thể cho một hệ thống. Với cách tiếp cận n{y, người đọc sẽ được trang bị một tầm nhìn bao qu|t, trên cơ sở đó có thể chủ động liên hệ các kiến thức học thuật và kỹ thuật cụ thể ở c|c chương sau v{o c|c b{i to|n thực tế. CÁC HỆ THỐNG, DỊCH VỤ GIÁM SÁT Các khái niệm Điện to|n đ|m m}y cho phép c|c công ty v{ c| nh}n thuê t{i nguyên theo yêu cầu từ một c|i “bể” hầu như không giới hạn.
Mô hình thanh to|n “dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu” được tính phí dựa trên khối lượng tài nguyên sử dụng trong 1 đơn vị thời gian. Bằng cách này, một doanh nghiệp có thể tối ưu hóa khoản tiền đầu tư v{o công nghệ thông tin và cải thiện tính sẵn s{ng cũng như khả năng mở rộng của hệ thống. Trong khi điện to|n đ|m m}y có rất nhiều hứa hẹn cho điện toán doanh nghiệp, vẫn có một số thiếu sót trong dịch vụ hiện nay như: – Khả năng mở rộng vốn dĩ hạn chế của các nhà cung cấp dịch vụ đ|m m}y đơn lẻ, mặc dù hầu hết các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng đ|m mây hiện nay yêu cầu khả năng mở rộng vô hạn. Trong thực tế thì ngay cả những nhà cung cấp lớn nhất cũng có nguy cơ đối mặt với vấn đề về khả năng mở rộng khi tỷ lệ sử dụng điện to|n đ|m m}y tăng.
Về lâu dài, vấn đề về khả năng mở rộng có thể sẽ trở nên tồi tệ hơn khi c|c nh{ cung cấp điện to|n đ|m m}y phục vụ một số lượng dịch vụ online ng{y c{ng tăng, thêm v{o đó, mỗi dịch vụ lại được truy cập bởi số lượng lớn người dùng trên toàn cầu vào mọi thời điểm. – Thiếu khả năng tương t|c giữa các nhà cung cấp dịch vụ. Công nghệ đ|m m}y hiện tại không được thiết kế để có khả năng tương t|c. Kết quả là các nhà cung cấp dịch vụ đ|m m}y không thể mở rộng thông qua quan hệ đối t|c kinh doanh.
Ngo{i ra, nó cũng ngăn cản các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng đ|m m}y vừa và nhỏ xâm nhập thị trường cung cấp điện toán đ|m m}y. Nhìn chung, nó đ~ ngăn cản sự cạnh tranh cũng như trói buộc khách hàng với một nhà cung cấp duy nhất. – Không hỗ trợ xây dựng trong quản lý dịch vụ kinh doanh. Quản lý dịch vụ kinh doanh (System management business – SMB) là một chiến lược quản lý cho phép doanh nghiệp sắp xếp quản lý CNTT theo mục tiêu cao cấp của họ.
Một mặt quan trọng của SMB là quản lý hợp đồng dịch vụ (SLA). Giải ph|p điện to|n đ|m m}y hiện tại không được thiết kế để hỗ trợ cho các hoạt động SMB được thành lập trong quản lý hằng ngày của doanh nghiệp ngành CNTT. Kết quả là các doanh nghiệp tìm kiếm sự chuyển đổi từ các hoạt động CNTT sang công nghệ dựa v{o đ|m m}y sẽ phải đối mặt với một bước đi không tăng v{ có khả năng g}y rối. Để giải quyết những vấn đề này, hiện nay mô hình liên kết kinh doanh cho các nhà cung cấp dịch vụ điện to|n đ|m m}y, trong đó mỗi nhà cung cấp có thể mua hoặc b|n dung lượng từ các nhà cung cấp khác, tùy theo nhu cầu.
Các yêu cầu của hệ thống, dịch vụ giám sát Những yêu cầu chính sau đ}y cho một hệ thống hạ tầng điện to|n đ|m m}y nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho người dùng đầu cuối: – Triển khai tự động và nhanh chóng. Đ|m m}y nên hỗ trợ hệ thống kích hoạt dự phòng tự động cho những ứng dụng dịch vụ phức tạp, dựa trên một hợp đồng chính thức x|c định cụ thể hợp đồng dịch vụ cơ sở hạ tầng. Hợp đồng tương tự cũng cần được tái sử dụng để cung cấp nhiều trường hợp của cùng một ứng dụng cho người thuê khác nhau với các tùy chỉnh khác nhau. – Co dãn tự động.
Đ|m m}y nên tự động điều chỉnh các thông số phân bố nguồn tài nguyên (bộ nhớ, CPU, băng thông, lưu trữ) của môi trường thực thi ảo của mỗi cá nhân một cách liên tục. Hơn nữa, số lượng c|c môi trường ảo thực hiện phải được tự động v{ điều chỉnh liên tục để thích ứng với sự thay đổi tải. – Tối ưu tự động liên tục. Đ|m m}y nên liên tục tối ưu sự sắp xếp của việc quản lý nguồn t{i nguyên cơ sở hạ tầng với mục đích cao cấp của doanh nghiệp.
Trong phần này, chúng ta sẽ làm sáng tỏ một tập hợp các nguyên tắc cho phép các dịch vụ điện to|n đ|m m}y được giám sát. Các nguyên tắc này làm nổi bật các yêu cầu cơ bản từ các nhà cung cấp điện to|n đ|m m}y cho phép c|c ứng dụng ảo được di chuyển một cách tự do, phát triển và thu nhỏ. Tính liên minh trong hệ thống: Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ điện to|n đ|m m}y, bất kể lớn đến đ}u, đều có một khả năng hữu hạn. Để phát triển vượt khỏi giới hạn đó, c|c nhà cung cấp dịch vụ điện to|n đ|m m}y nên hình th{nh liên minh c|c nh{ cung cấp để cộng tác và chia sẻ tài nguyên.
Sự cần thiết của những sản phẩm điện to|n đ|m m}y có khả năng liên kết cũng có nguồn gốc từ xu hướng công nghiệp, trong việc áp dụng các mô hình điện to|n đ|m m}y nội bộ trong công ty để tạo ra c|c đ|m m}y riêng v{ sau đó có thể mở rộng đ|m m}y với các nguồn tài nguyên cho thuê theo yêu cầu từ c|c đ|m m}y công cộng. Mỗi liên minh của các nhà cung cấp dịch vụ điện to|n đ|m m}y nên cho phép c|c ứng dụng ảo được triển khai trên c|c địa điểm liên kết. Hơn thế nữa, các dịch vụ ảo cần một địa điểm hoàn toàn tự do và cho phép di chuyển một phần hoặc toàn bộ giữa c|c địa điểm. Đồng thời, sự riêng tư bảo mật v{ độc lập của các thành viên liên bang phải được duy trì để cho phép các nhà cung cấp cạnh tranh nhằm lien hiep.
Tính độc lập của các dịch vụ: Cũng như c|c tiện ích kh|c, nơi chúng ta sử dụng dịch vụ mà không biết gì về hệ thống bên trong với các thiết bị tiêu chuẩn, không phụ thuộc vào bất kỳ nhà cung cấp n{o, để các dịch vụ điện to|n đ|m m}y thực sự đ|p ứng c|c tính to|n như một tầm nhìn tiện ích, chúng ta cần cung cấp cho người dùng một sự độc lập hoàn toàn. Người dùng nên được trao khả năng sử dụng dịch vụ đ|m m}y m{ không cần phải dựa vào bất kỳ công cụ đặc biệt nào của nhà cung cấp dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ điện to|n đ|m mây nên có khả năng quản lý cơ sở hạ tầng của mình m{ không phơi b{y c|c chi tiết bên trong cho khách hàng hoặc đối t|c. Như một hệ quả của nguyên tắc độc lập, tất cả các dịch vụ điện to|n đ|m m}y cần được đóng gói v{ tổng qu|t để người sử dụng có thể có nguồn tài nguyên tương đương tại các nhà cung cấp khác nhau. Tính tách biệt của các dịch vụ: Dịch vụ điện to|n đ|m m}y, theo định nghĩa, được tổ chức bởi một nhà cung cấp đồng thời sẽ tổ chức các ứng dụng từ nhiều người sử dụng khác nhau.
Đối với những người dùng di chuyển những tính toán của họ v{o đ|m m}y, họ cần sự đảm bảo từ nhà cung cấp điện to|n đ|m m}y sao cho công cụ của họ là hoàn toàn tách biệt những người kh|c. Người dùng phải được đảm bảo rằng tài nguyên của họ không thể bị truy cập bởi những người chia sẻ cùng một đ|m m}y v{ không có người dùng khác có thể có khả năng trực tiếp ảnh hưởng đến các dịch vụ cấp cho ứng dụng của họ. Tính mềm dẻo: Một trong những ưu điểm chính của điện to|n đ|m m}y l{ khả năng cung cấp hoặc phát hành nguồn tài nguyên theo yêu cầu. Những khả năng mềm dẻo nên được ban hành tự động bởi các nhà cung cấp điện toán đ|m m}y để đ|p ứng nhu cầu thay đổi, giống như c|c công ty điện có thể (trong trường hợp hoạt động bình thường) tự động đối phó với chênh lệch trong mức tiêu thụ điện.
Hành vi và giới hạn của việc tăng cũng như thu hẹp tự động cần được thúc đẩy bởi hợp đồng và các quy tắc thống nhất giữa các nhà cung cấp điện to|n đ|m m}y v{ người sử dụng. Tính hướng doanh nghiệp: Có lẽ vấn đề quan trọng nhất để giải quyết trước khi điện to|n đ|m m}y có thể trở th{nh mô hình điện to|n ưa thích l{ l{m sao thiết lập được sự tin tưởng. Cơ chế để xây dựng và duy trì lòng tin giữa người tiêu dùng và các nhà cung cấp, cũng như giữa các nhà cung cấp với nhau, là yếu tố cần thiết cho sự thành công của bất kỳ sản phẩm điện to|n đ|m m}y n{o. Mô hình hệ thống dịch vụ giám sát Trong mô hình hệ thống giám sát dịch vụ điện to|n đ|m m}y, chúng ta x|c định hai đối tượng chính: Nhà cung cấp dịch vụ (Service Providers – SPs) là các nhân tố cần tài nguyên để cung cấp một vài dịch vụ.
Tuy nhiên SPs không sở hữu t{i nguyên, thay v{o đó, họ thuê của các nhà cung cấp cơ sở hạ tầng (Infrastructure Providers – IPs), nơi cung cấp cho họ một không gian tài nguyên tính toán, mạng v{ lưu trữ gần như vô hạn. Một ứng dụng dịch vụ là một tập hợp các thành phần phần mềm làm việc cùng nhau để đạt được một mục tiêu chung. Mỗi thành phần của ứng dụng dịch vụ như thực hiện trong một VEE chuyên dụng. Các nhà cung cấp dịch vụ triển khai các ứng dụng dịch vụ trên đ|m mây bằng việc cung cấp một IP, được gọi là các trang web chính với một dịch vụ Manifest– có nghĩa là, một tài liệu x|c định cấu trúc của ứng dụng cũng như hợp đồng và SLA giữa các SP và IP.