mở đầu này, nhóm nghiên cứuchúng tôi sẽ tập trung giới thiệu khái quát về nguồn gốc của cộng đồng người Nùng, cũng như những nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng sinh sống trên địa bàn Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Tổng quan về ngƣời Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ngƣời Nùng. Người Nùng hiện nay ở nước ta là những người di cư sang từ Quảng Tây (Trung Quốc).
Họ chỉ mới di cư sang việt nam trong những thế kỉ gần đây, nguyên nhân của những cuộc di cư rất nhiều, nhưng chủ yếu là do bị áp bức, bóc lột nặng nề, bị chèn ép, nhất là bị đang áp, tàn sát đẫm máu sau các cuộc khởi nghĩa không thành công. Loạn lạc, cướp bóc cùng với nạn thiếu ruộng đất cũng thúc đẩy họ đi tìm nơi sinh sống dễ chịu hơn. Từ Trung Quốc họ không di cư hàng loạt sang Việt Nam mà họ di cư theo từng nhóm riêng lẻ. Dân tộc Nùng có lịch sử hình thành khá lâu đời, nhưng sự liên kết giữa các nhóm người trong cộng đồng dân tộc này vẫn còn rất thấp.
Có rất nhiều điểm khác nhau giữa các nhóm địa phương từ tên gọi, ngôn ngữ, đời sống vật chất và tinh thần. Vì vật giữa các nhóm với nhau sẽ có những nét riêng biệt của từng nhóm người, dẫn đến tình trạng sự am hiểu về nhau giữa các nhóm người cũng có sự giới hạn. Trong số những người di cư sang Việt Nam thì một số ít cư trú tại các tỉnh ở khu vực phía bắc Việt Nam, một bộ phận còn lại thì dần dần tràn xuống phía nam, tập trung sinh sống tại miền trung du, họ sống đan xen với người Kinh, Sán Dìu, Hoa và cả người Dao. Trong số dân di cư xuống phía nam đó có một bộ phận đã đến và cư trú tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Ngƣời Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. “Lâm Đồng là một trong những tỉnh ở Tây Nguyên có số dân của các dân tộc ít người miền Bắc tập trung đông đúc hơn cả. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, thực dân Pháp đã di cư vào miền Nam khoảng 100.000 người thuộc các dân tộc Hoa, Tày, Thái, Nùng, Mường, Mèo, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ,. ở vùng thượng du Bắc Bộ.
Trong đó, con số được đưa đến định cư ở Lâm Đồng là khoảng dưới 20. Phần lớn các nhóm dân tộc này tập trung ở xã Tùng Nghĩa (nay là Thị trấn Liên Nghĩa), huyện Đức Trọng. Tháng Giêng 1955, hơn 5000 người Hoa ở Hải Ninh, người Thái, Tày, Nùng ở thượng du Bắc Bộ đã bị tập trung về đây để khai hoang và lập nên xã Tùng Nghĩa. Năm 1957, số dân các dân tộc ở đây đã đạt đến 16.000 người, chia ra làm 5 khu định cư: khu Cao Thái Sơn bao gồm những người Tày, Nùng và các dân tộc khác ở Cao Bằng, Thái Nguyên và Lạng Sơn; khu Thái bao gồm những người Thái đen và Thái trắng ở Sơn La hoặc Lai Châu; khu Cao Bắc Lạng bao gồm những người Tày, Nùng ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn; khu Lục Nam và Nam Sơn bao gồm những người Tày, Nùng và các dân tộc ở Bắc Giang và miền trung du Bắc Bộ.
Tháng 8 năm 1957, các khu định cư trên biến thành các ấp và hợp nhất thành xã Tùng Nghĩa cho đến nay.”1 Riêng “đồng bào người Nùng là một dân tộc thiểu số có nguồn gốc ở vùng Lưỡng Quảng, một phần đông nam Vân Nam Trung Quốc và vùng đông bắc Bắc Bộ Việt Nam. Dân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với dân tộc Tày ở Việt Nam và dân tộc Choang ở bên kia biên giới Việt Trung. Ngày nay, ở Trung Quốc, họ được ghép chung vào cộng đồng dân tộc Choang thống nhất. Nhóm địa phƣơng Nùng Xuồng (cư trú ở Hà Quảng, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng), Nùng An (cư trú ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…), Nùng Inh (cư trú ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên….), Nùng Phàn Slình (cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn…),.
1 Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Mạc Đường chủ biên, nxb văn hóa tỉnh LĐ, năm 1983, trang 34 -35. 2 Chu Thái Sơn chủ biên và Hoàng Hoa Toàn, nxb. Ngôn ngữ: Theo kết quả của nhóm chúng tôi nghiên cứu, ngôn ngữ mà tất cả các cộng đồng người Nùng sinh sống trên mọi miền Tổ quốc sử dụng đều “thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (ngữ hệ Thái – Ka Đai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc. Quá trình di cƣ và địa bàn cƣ trú của cộng đồng ngƣời Nùng: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây Trung Quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 – 300 năm.
Địa bàn cư trú của họ“chủ yếu ở các tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoàng Liên Sơn, v. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, có khoảng 45.000 người Nùng di cư vào các tỉnh phía nam sinh sống như: Lâm Đồng, Đồng Nai, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum. và từ năm 1975 đến nay, một bộ phận người Nùng từ miền Bắc tiếp tục di cư vào các tỉnh miền nam sinh sống. Dân số: Theo số liệu thống kê của UBND Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng thì “dân số của cộng đồng người Nùng nơi đây vào tháng 10/1997 là 11.856 người, dân số điều tra vào năm 2013 tại đây là 5.997 người, gồm 1.137 hộ, trong đó nữ chiếm 3.
Hoạt động sản xuất: Ngành nghề chủ yếu của cộng đồng người Nùng là sản xuất nông nghiệp, canh tác ruộng nước và trồng các loại hoa màu trên rẫy. Định canh và thâm canh là phương thức sinh sống chính của họ. Ngày nay, cộng đồng người Nùng ở Đức Trọng do ảnh hưởng kinh tế người Kinh nên đại bộ phận chuyển sang buôn bán nhỏ nhưng nông nghiệp vẫn là phương thức sản xuất chủ yếu. Lịch: Cách tính ngày tháng của người Nùng sử dụng theo lịch âm là chính.
3 Trang tin điện tử Ủy ban dân tộc cema.vn 4 UBND Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng 8 g. Lễ tết: Người Nùng ăn tết như người Kinh và người Tày, nhưng ngày 23 tết không có tục lệ đưa ông Táo về trời. Chữ viết: Người Nùng xưa dùng chữ Hán như người Hoa, nhưng cách phát âm khác với người Hoa, gọi là tiếng Nôm Nùng. Nhưng hiện nay do bị Kinh hóa nên ngôn ngữ mà cộng đồng sử dụng hiện nay là tiếng Việt.
Điều kiện kinh tế và vật chất 2. Điều kiện kinh tế Trước đây, ngành nghề chủ yếu của cộng đồng người Nùng là sản xuất nông nghiệp, khi di cư đến Thị trấn Liên Nghĩa, người Nùng canh tác ruộng nước thành thạo như người Kinh, người Tày. Song do điều kiện kinh tế xã hội ngày một phát triển nên hình thức canh tác truyền thống dùng sức người,sức động vật,. đã được thay thế bằng hình thức canh tác ngày càng hiện đại hơn, họ đã biết sử dụng cơ khí hóa, phân bón hóa học vào canh tác sản xuất nông nghiệp, từ đó đã tạo điều kiện để tăng năng suất lúa.
Nhưng hiện nay, số hộ làm nông nghiệp không phải chiếm đa số mà phần lớn cộng đồng người Nùng đã chuyển sang hình thức kinh doanh buôn bán nhỏ, chỉ còn số ít hộ giữ lại truyền thống sản xuất nông nghiệp. “Ngoài ra ở Liên Nghĩa, người dân còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm chăn nuôi gia cầm, gia súc và tạo được giống tốt như lợn đen Mường Khương, Lạng Sơn, ngựa Cao Bằng…nhằm phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày cũng như vào những dịp lễ, tết, hiếu hỷ. Các ngành nghề thủ công cũng giữ vai trò quan trọng, người Nùng cũng nổi tiếng với các sản phẩm đan lát, dệt chiếu, làm thùng gỗ, yên ngựa, làm giấy, nghề trúc, làm đường phèn….Mỗi nhóm Nùng, mỗi làng có những nghề riêng đặc sắc của mình. Tuy nhiên, tất cả các ngành nghề truyền thống ngày nay đã dần dần mất đi.
Nếu có nhu cầu, 9 họ có thể mua những sản phẩm bán sẵn trên thị trường. Ngoài ra, còn có nghề tài xế, phụ hồ…cũng đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho các gia đình người Nùng ở đây. Điều kiện vật chất Trước đây thôn xóm (bản) của cộng đồng người Nùng thường ở trong các thung lũng, bên sườn đồi, chân núi, ven các sông, suối. Mỗi bản thường bao gồm từ dăm bảy đến vài chục nóc nhà quần tụ với nhau.
Cây đa, bến nước, miếu thờ thổ công, sân chơi, là nơi hội họp trong các ngày hội, ngày lễ.Người Nùng sống xen ghép với người Tày nhưng vẫn theo từng bản riêng, mỗi bản hoặc vài bản gần nhau được bố trí thành một hệ thống phòng thủ để chống trộm cướp, giặc dã. “Nhà có ba loại: nhà sàn, nhà đất và nhà nửa sàn nửa đất; trong đó nhà sàn là ngôi nhà truyền thống. Đồng bào ở đây làm nhà khá to, rộng, thường có ba gian, vách gỗ, lợp gối máng. Nhà sàn là ngôi nhà tổng hợp: người ở trên sàn, gầm sàn để nhốt trâu, bò, lợn, gà.
trên gác chứa dụng cụ sản xuất, nông phẩm,.Nhà đất đa phần phổ biến ở các vùng dọc biên giới, sát đường giao thông. Nhà nửa sàn nửa đất mang tính chất tạm bợ, chỉ còn lại ở những gia đình sống du canh du cư. Việc bố trí ở trong nhà giữa các nhóm Nùng cơ bản là giống nhau. Nhà chia làm hai phần bởi bức vách ngăn, trừ một lối đi ở gian giữa.
Phần trong đặt bếp là nơi sinh hoạt của phụ nữ,phần ngoài dành cho nam giới và đặt bàn thờ tổ tiên. Khách là nam ngủ phần ngoài, là nữ thì ngủ phần trong. Trước nhà dựng cầu thang lên xuống và làm sàn phơi,sau nhà có cầu thang phụ, ở đấy đặt máng nước.”5 Tuy nhiên, tại Thị trấn Liên Nghĩa, Đức Trọng, Lâm Đồng, nhà ở của người Nùng phần lớn đã được được tân tiến hóa, nhà ở đây giống với nhà người Kinh được xây bằng tường, có phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, phòng vệ sinh,. “Là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, loài người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong suốt quá trình lịch sử của 5 Viện dân tộc học, “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam”, NXB Văn học 10 mình.
Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên và văn hóa là sản phẩm đặc sắc nhất của con người. Có thể nói văn hóa là sự hóa thân của đời sống, nó thấm vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người, nó xuyên suốt cơ thể xã hội, nó biểu hiện trình độ người, trình độ xã hội, văn minh quốc gia, văn minh nhân loại.