Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (mã số: 9 31 02 01) với đề tài "Hệ thống chính trị một đảng nổi trội - Giá trị tham khảo cho Việt Nam" được nghiên cứu sinh Hoàng Ngọc Phương thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Viết Thông và PGS.TS. Tống Đức Thảo (Hà Nội, 2021).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu:
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, được ghi nhận nhất quán trong các văn kiện Đảng và Hiến pháp các năm 1980, 1992, 2013. Trải qua gần 35 năm đổi mới, hệ thống chính trị Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng nhưng cũng bộc lộ những bất cập về cơ chế, tổ chức bộ máy, chức năng và mối quan hệ công tác giữa các tổ chức chưa được phân định rành mạch. Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII đã đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc thận trọng, có nguyên tắc, không chủ quan nóng vội. Bối cảnh hội nhập quốc tế tạo ra sức ép nội tại và bên ngoài đòi hỏi hệ thống chính trị phải đủ mạnh và linh hoạt. Về mặt học thuật và thực tiễn, việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế cần tuân thủ nguyên tắc biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù, cái lịch sử và cái lô-gic. Hệ thống chính trị Việt Nam có những điểm tương đồng nhất định với các quốc gia tồn tại cơ chế đa đảng nhưng có một đảng nổi trội cầm quyền trong thời gian dài như Singapore (Đảng Hành động Nhân dân - PAP), Nhật Bản (Đảng Dân chủ Tự do - LDP), Hàn Quốc (Đảng Dân chủ). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là làm rõ cơ chế vận hành, điều kiện duy trì tính chính đáng, năng lực phát triển kinh tế và kiểm soát quyền lực của mô hình một đảng nổi trội để rút ra các giá trị tham khảo phù hợp cho tiến trình đổi mới hệ thống chính trị tại Việt Nam.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Làm rõ lý luận về hệ thống chính trị một đảng nổi trội; khảo sát, đánh giá các mô hình điển hình tại châu Á để đề xuất các giá trị tham khảo cho công cuộc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng nổi trội.
- Thứ hai, khảo sát, đánh giá hiệu quả vận hành của hệ thống chính trị một đảng nổi trội qua mô hình một số quốc gia châu Á điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore.
- Thứ ba, gợi mở một số giá trị tham khảo từ các trường hợp khảo cứu cho việc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống chính trị một đảng nổi trội và giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Các quốc gia Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn một đảng nổi trội cầm quyền tại các mô hình nghiên cứu (PAP ở Singapore, LDP ở Nhật Bản, Đảng Dân chủ ở Hàn Quốc).
- Phạm vi nội dung: Giá trị ứng dụng của mô hình hệ thống chính trị một đảng nổi trội phục vụ việc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn nhóm nội dung chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị và xu hướng chính trị thế giới.
- Các ấn phẩm về mô hình thể chế và bộ máy nhà nước: Hồ Văn Thông (1998) phân tích hệ thống chính trị tư bản phát triển; Dương Xuân Ngọc và Lưu Văn An (2003) nghiên cứu thể chế chính trị thế giới đương đại; Viện Khoa học Pháp lý (2005, bản dịch của Phạm Văn Lợi, Hoàng Thị Ngân) khảo cứu thiết chế chính trị và bộ máy nhà nước; Tô Huy Rứa (2008) chủ biên công trình về mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước; Lưu Ngọc Trịnh (2012) phân tích kinh tế và chính trị thế giới đến năm 2020.
- Các công trình về bối cảnh quốc tế và toàn cầu hóa: Lê Minh Quân (2006) chỉ ra các xu hướng chính trị chủ yếu như hòa bình, hợp tác, dân chủ hóa và cải cách chính trị; Phạm Thái Việt (2006), Lê Quang Hòa (2008), Nguyễn Hoàng Giáp (2012) làm rõ tác động đa chiều của toàn cầu hóa đối với hệ thống chính trị.
- Nghiên cứu thể chế phát triển: Daron Acemoglu và James Robinson trong tác phẩm Tại sao có quốc gia thất bại đã chứng minh vai trò quyết định của thể chế chính trị và thể chế kinh tế đối với sự thịnh vượng hoặc suy thoái của một quốc gia.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về đảng chính trị và đảng cầm quyền.
- Lý thuyết quốc tế về đảng phái: W. Ismayr (2002-2003) nghiên cứu hệ thống chính trị Đông Âu và Tây Âu; Joseph LaPalombara và Myron Weiner (1966) nghiên cứu đảng chính trị và phát triển chính trị; Samuel Beer (1966) khảo sát chính trị Anh; David Easton (1965) phân tích hệ thống đời sống chính trị; David Butler và Donald Stokes (1969), Maurice Duverger (1969) xây dựng lý thuyết hệ thống đảng, văn hóa chính trị và bầu cử.
- Tác giả Việt Nam nghiên cứu đảng phái phương Tây: Lưu Văn Quảng (2006, 2008, 2014) khảo sát hệ thống bầu cử và cơ chế dân chủ nội bộ tại Anh, Mỹ, Pháp; Ngô Huy Đức phân tích phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền trong nhà nước pháp quyền phương Tây và vấn đề tính chính đáng của quyền lực; Ngô Đức Tính (2004), Đặng Đình Tân (2006), Lương Văn Kế (2009), Tạ Ngọc Tấn (2012), Nguyễn Xuân Tế và Đặng Đình Thành phân tích vai trò của đảng cầm quyền đối với nhà nước tư sản và các điều kiện xác lập tính chính đáng qua tuyển chọn nhân sự, cương lĩnh và bầu cử.
Nhóm 3: Các nghiên cứu về hệ thống chính trị một đảng nổi trội.
- Luận án điểm lại phân loại ba nhóm cơ chế một đảng cầm quyền: (1) Chỉ duy nhất một đảng lãnh đạo (Việt Nam, Lào, Cuba); (2) Nhiều đảng nhưng duy nhất một đảng cầm quyền theo hiến định (Trung Quốc, Syria, Iraq); (3) Nhiều đảng nhưng chỉ một đảng nổi trội cầm quyền không hiến định (Singapore, Malaysia, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc).
- Nghiên cứu thể chế Trung Quốc: Tinh Tinh (2002), Đỗ Tiến Sâm (2003, 2013), Doãn Trung Khanh (2012).
- Nghiên cứu mô hình Đông Á và Đông Nam Á: Đề tài KX.10-10 của Tô Huy Rứa; đề tài của Ngô Huy Đức tại Viện Chính trị học; công trình của Hồ Sĩ Quí (2014) về dân chủ, độc tài và phát triển; báo cáo của nhóm CIEM - VIE - VEPR - VCCI (do Đinh Tuấn Minh và Phạm Thế Anh dịch/chủ trì) dựa trên khung phân tích của Fukuyama (2011, 2014), North (1990) và lý thuyết nhà nước một đảng thống lĩnh của Trantidis (2012), Bogaards (2004), Carothers (2002); các công trình nghiên cứu quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan của Điền Hồng Mậu (1973, 1989, 1997, 1998, 2008) và Chu Vân Hán (1992, 1997, 2000, 2008); các nghiên cứu về Malaysia và Singapore của Victor Purcell (1954), Milne R.S (1967), E. Osman-Rani (1982), Jon S. Quan, Chan Heng Chee, Seah Chee Meow (1985), Trần Khánh (1995), Diane K. Milne (2002).
Nhóm 4: Các công trình nghiên cứu về đổi mới hệ thống chính trị và phương thức lãnh đạo của Đảng tại Việt Nam.
- Các tác phẩm của Nguyễn Trọng Phúc (2006, 2013), Trần Xuân Trường (2000), Nguyễn Duy Quý (2008), Lê Minh Thông (2008), Phạm Hồng Chương (2004), Nguyễn Đức Bình (1999), Hồ Bá Thâm (2005), Phạm Ngọc Trâm (2011), Lý Vĩnh Long (2012), Lê Quốc Lý (2014), Hoàng Chí Bảo (2006), Lê Quang Hòa (2008), Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt (2003), Trần Đình Hoan (2008), Nguyễn Phương Hồng (2005), Nguyễn Văn Huyên (2014), Lê Hữu Nghĩa (2013).
- Về phương thức lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng: Đỗ Hoài Nam (Đề tài KX); Phạm Thế Lực phân tích tính chính đáng thông qua tính hợp pháp và tính hợp lý; Phạm Ngọc Quang (2013) luận giải tính tất yếu khách quan và tiêu chí đánh giá năng lực của Đảng cầm quyền; Nguyễn Hữu Đổng phân tích khái niệm "Đảng hóa thân vào Nhà nước"; Hồ Bá Thâm tiếp cận từ lý thuyết hệ thống, chỉ ra nguy cơ tha hóa quyền lực và yêu cầu kiểm soát quyền lực; Phạm Ngọc Quang và Ngô Kim Ngân (Đề tài KX-03-08); Trần Ngọc Đường, Thang Văn Phúc, Đào Trí Úc; Carlyle Thayer nghiên cứu tính chính đáng chính trị của nhà nước một đảng tại Việt Nam trước các thách thức thực tiễn.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Hầu hết các công trình trước đây tiếp cận hệ thống chính trị một đảng nổi trội dưới góc độ mô tả từng quốc gia riêng lẻ hoặc nghiên cứu thể chế thuần túy. Luận án lựa chọn giải quyết ba khoảng trống:
- Khái quát hóa hệ thống lý luận và xác lập các tiêu chí, đặc trưng của hệ thống chính trị một đảng nổi trội từ các học giả quốc tế.
- Khảo cứu thực chứng, so sánh trường hợp ba mô hình điển hình tại Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore) nhằm phân tích cơ chế vận hành của đảng nổi trội trong việc kết hợp giữa ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế.
- Luận giải và rút ra các giá trị tham khảo cụ thể, khả thi để vận dụng vào tiến trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung khái niệm:
- Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị. Văn bản quán triệt nguyên tắc biện chứng, khách quan, toàn diện và lịch sử - cụ thể.
- Khung khái niệm và lý thuyết chuyên ngành:
- Lý thuyết hệ thống chính trị của David Easton (1953, 1965) với cơ chế "đầu vào" (yêu cầu, sự ủng hộ), quá trình xử lý của thể chế và "đầu ra" (quyết định, chính sách).
- Lý thuyết cấu trúc - chức năng và văn hóa chính trị của Gabriel Almond về cấp độ thể chế và cấp độ định hướng, nhấn mạnh quyền cưỡng chế hợp pháp của hệ thống chính trị.
- Lý thuyết về hệ thống đảng bán cạnh tranh, đảng chi phối và tiêu chí xác định đảng nổi trội của Maurice Duverger, Blanksten, Andrew Heywood, Sato Saburo, James S. Coleman (tiêu chuẩn >70% số ghế), Ronald H. McDonald (tiêu chuẩn ≥60% số ghế), Alan Ware (tiêu chuẩn 45-50% số ghế hoặc >50% số phiếu), Giovanni Sartori (tiêu chuẩn ≥50% số ghế trong 3 kỳ bầu cử liên tiếp), T.J. Pempel (tiêu chuẩn vị thế đàm phán chi phối khoảng 35% số ghế trong hệ thống đa đảng), Vũ Hoàng Công, Đặng Đình Tân và Đặng Minh Tuấn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và so sánh chính trị học, bao gồm:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ bản chất, nội hàm các khái niệm hệ thống chính trị, đảng cầm quyền, hệ thống chính trị một đảng nổi trội và các đặc trưng cấu thành.
- Phương pháp logic - lịch sử: Phân tích quá trình hình thành, xác lập và biến đổi của hệ thống chính trị một đảng nổi trội tại các quốc gia khảo cứu trong bối cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự khác biệt giữa hệ thống chính trị một đảng, hệ thống hai đảng luân phiên, hệ thống đa đảng phân mảnh và hệ thống một đảng nổi trội; so sánh giữa ba mô hình Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore.
- Phương pháp phân tích tài liệu: Khai thác văn kiện, nghị quyết của Đảng, hệ thống văn bản pháp luật, các công trình học thuật chuyên khảo, báo cáo khoa học của các viện nghiên cứu (CIEM, VEPR, VCCI) và dữ liệu từ các tổ chức quốc tế.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ; các Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương (đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI tháng 3/1989 và Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII).
- Hiến pháp Việt Nam các năm 1980, 1992, 2013.
- Báo cáo thống kê kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF (2018).
- Dữ liệu xếp hạng Chỉ số Phát triển Con người (HDI).
- Dữ liệu xếp hạng Chỉ số Nhận thức Tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (CPI 2019).
- Dữ liệu niên đại thống trị và kiểm soát ghế tổng thống, nghị viện được trích xuất từ nghiên cứu của Templeman (2014) và các học giả chính trị học quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các ấn phẩm nghiên cứu về hệ thống chính trị thế giới, lý thuyết đảng phái và thực tiễn hệ thống chính trị Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (tháng 3/1989) là mốc lịch sử lần đầu tiên Đảng sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" thay thế cho "hệ thống chuyên chính vô sản", sau đó tiếp tục được hoàn thiện tại Đại hội VII (tháng 6/1991). Chương này phân tích các nghiên cứu về tính chính đáng của quyền lực chính trị (tính hợp pháp và tính hợp lý), hiện tượng "Đảng hóa thân vào Nhà nước", nguy cơ tha hóa quyền lực khi thiếu cơ chế kiểm soát, đồng thời khẳng định việc tiếp tục nghiên cứu mô hình một đảng nổi trội là yêu cầu cấp thiết để cung cấp luận cứ cho công cuộc tinh gọn bộ máy tại Việt Nam.
Chương 2: Lý luận chung về hệ thống chính trị một đảng nổi trội và đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị một đảng nổi trội
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về hệ thống chính trị và phân loại các mô hình trên thế giới. Tác giả định nghĩa: Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể nhằm thực thi quyền lực chính trị. Hệ thống chính trị gồm 3 thành tố: cấu trúc thể chế, chức năng và sự tương tác giữa các cấu trúc.
Tác giả tổng hợp các tiêu chí phân loại mô hình hệ thống chính trị:
- Phân loại theo hệ tư tưởng: Mô hình xã hội chủ nghĩa và mô hình tư bản chủ nghĩa.
- Phân loại theo cách thức tổ chức nhà nước (phân quyền): Nhóm tập trung quyền lực (các nước xã hội chủ nghĩa, một số nước Hồi giáo như Iran, UAE, chính quyền quân sự như Bangladesh, Pakistan) và Nhóm phân chia quyền lực lập pháp - hành pháp - tư pháp (hệ thống nghị viện, hệ thống tổng thống, hệ thống hỗn hợp).
- Phân loại theo số lượng đảng tham gia:
| Tiêu chí |
Nhóm 1 |
Nhóm 2 |
Nhóm 3 |
Nhóm 4 |
Nhóm 5 |
| Số đảng |
1 đảng |
Đa đảng |
Đa đảng |
Đa đảng |
Đa đảng |
| Đảng cầm quyền |
1 đảng duy nhất |
1 đảng (hiến định) |
1 đảng (không hiến định) |
1 đảng (thay nhau) |
Đa đảng (liên minh) |
| Ví dụ điển hình |
Việt Nam, Lào, Cuba, CHDCND Triều Tiên |
Trung Quốc, Syria, Iraq |
Singapore, Malaysia, Indonesia |
Mỹ, Anh, New Zealand, Australia |
Pháp, Ấn Độ, Nga, CHLB Đức |
Về mặt dữ liệu định chế:
- Trên thế giới có 34 nước xây dựng hệ thống chính trị một đảng (chỉ có 5 nước do đảng cộng sản lãnh đạo, 29 nước còn lại do các đảng phi cộng sản nắm quyền sau các phong trào giải phóng dân tộc). Đến trước năm 1991 từng có 75 nước theo mô hình này.
- Có 43 quốc gia theo mô hình hệ thống chính trị một đảng chi phối/thống lĩnh, phân bố tại châu Phi (23 nước), châu Á (11 nước), châu Âu (5 nước) và châu Mỹ (3 nước).
- Theo thống kê của Templeman (2014), trong giai đoạn 1950 - 2012, có 30 quốc gia trên thế giới duy trì hệ thống một đảng nổi trội cầm quyền liên tục ít nhất 20 năm (như Nhật Bản, Singapore, Ấn Độ, Nam Phi, Botswana, Mexico, Áo, Tây Đức, Bỉ, Israel).
- Chương này cũng tích hợp các dữ liệu phân tích qua Bảng 2.1 (Đảng kiểm soát chức tổng thống), Bảng 2.2 (Đảng đối lập kiểm soát chức tổng thống) và Bảng 2.3 (Sự thống trị theo niên đại).
Chương 3: Khảo cứu một số trường hợp hệ thống chính trị một đảng nổi trội điển hình
Chương 3 đi sâu khảo sát ba trường hợp tiêu biểu tại châu Á:
- Trường hợp Nhật Bản: Phân tích sự thống trị chính trị kéo dài của Đảng Dân chủ Tự do (LDP) từ năm 1955 (Hệ thống 1955). Luận án làm rõ cơ chế liên minh giữa LDP, giới quan liêu hành chính tinh hoa và giới tài phiệt công nghiệp (mô hình "tam giác sắt"), giúp duy trì sự ổn định chính trị và thúc đẩy kinh tế tái thiết sau chiến tranh.
- Trường hợp Hàn Quốc: Khảo cứu vai trò của Đảng Dân chủ và các đảng cầm quyền chủ đạo trong các giai đoạn phát triển, phân tích mối quan hệ giữa nhà nước kiến tạo phát triển, các tập đoàn kinh tế (chaebol) và quá trình chuyển đổi thể chế chính trị.
- Trường hợp Singapore: Phân tích vai trò cầm quyền liên tục của Đảng Hành động Nhân dân (PAP) từ khi độc lập năm 1965. Luận án chỉ ra các yếu tố tạo nên sự ổn định: sự lãnh đạo tập trung của PAP, việc duy trì các giá trị châu Á, xây dựng bộ máy hành chính công vụ dựa trên chế độ đãi ngộ cao và cơ chế kiểm soát tham nhũng nghiêm ngặt.
Chương 4: Đánh giá hệ thống chính trị một đảng nổi trội và một số giá trị tham khảo cho đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam
Chương 4 tổng kết các đặc trưng nổi bật và đề xuất bài học cho Việt Nam:
- Những nét nổi bật của hệ thống chính trị một đảng nổi trội: Khả năng duy trì ổn định chính trị dài hạn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, xây dựng nền hành chính công vụ tinh gọn, chuyên nghiệp và kiểm soát tham nhũng hiệu quả. Luận điểm này được minh chứng qua các bảng số liệu:
- Bảng 4.1: Danh sách xếp hạng GDP các quốc gia và vùng lãnh thổ theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2018) - phản ánh quy mô kinh tế vượt trội của các nền kinh tế có giai đoạn một đảng nổi trội lãnh đạo.
- Bảng 4.2: Châu Á - 10 quốc gia có chỉ số phát triển con người cao - minh chứng hiệu quả quản trị xã hội và phát triển con người tại Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc.
- Bảng 4.3: Danh sách các nước xếp hạng theo chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2019 (CPI 2019) - thể hiện mức độ liêm chính cao của bộ máy công quyền tại Singapore và Nhật Bản.
- Các giá trị tham khảo cho Việt Nam:
- Nâng cao năng lực cầm quyền và tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua hiệu quả quản trị quốc gia và cải thiện đời sống nhân dân.
- Tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, phân định rõ chức năng lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý, điều hành của Nhà nước.
- Cải cách chế độ công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất, chuyên môn cao và chính sách đãi ngộ thỏa đáng.
- Thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ, ngăn chặn nguy cơ tha hóa quyền lực, bao biện làm thay hoặc lạm quyền trong bộ máy.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:
- Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết, cách tiếp cận và quan điểm của các học giả trong và ngoài nước về hệ thống chính trị, đảng chính trị và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị một đảng nổi trội.
- Xác lập khung tiêu chí nhận diện và làm rõ đặc trưng bản chất của hệ thống chính trị một đảng nổi trội: tồn tại trong môi trường cạnh tranh đa đảng nhưng một đảng duy trì quyền lực hành pháp vượt trội và liên tục trong thời gian dài nhờ tính chính đáng và năng lực quản trị.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng từ nghiên cứu so sánh ba trường hợp điển hình ở châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore), chứng minh mối quan hệ giữa thể chế đảng nổi trội với sự ổn định chính trị và thành tựu phát triển kinh tế - xã hội.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Đưa ra hệ thống luận chứng khoa học giúp Đảng Cộng sản Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế phục vụ công cuộc đổi mới hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII.
- Đề xuất các định hướng thực tiễn nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo.
- Gợi mở các giải pháp xây dựng nền hành chính tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm phòng, chống suy thoái, tham nhũng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào ba trường hợp điển hình tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore) trong các giai đoạn một đảng nổi trội cầm quyền cụ thể. Do phạm vi nghiên cứu hướng đến giá trị ứng dụng cho Việt Nam, luận án chưa đi sâu phân tích toàn diện các mô hình một đảng nổi trội tại khu vực châu Phi, châu Âu hoặc Mỹ Latinh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối với các hệ thống chính trị một đảng nổi trội tại các khu vực địa - chính trị khác; khảo sát sâu hơn các cơ chế kỹ thuật lập pháp, các mô hình bầu cử và quy trình hoạch định chính sách công cụ thể của đảng cầm quyền nhằm cung cấp thêm các hàm ý chính sách chi tiết.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên: Làm tài liệu học tập, nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Quan hệ Quốc tế và các ngành Khoa học Xã hội & Nhân văn.
- Cơ quan hoạch định chính sách và tham mưu chiến lược: Cung cấp luận cứ khoa học cho các ban đảng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xây dựng đề án sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị.
- Chủ thể cầm quyền: Tham khảo kinh nghiệm quản trị công, đổi mới phương thức lãnh đạo và kiểm soát quyền lực từ các quốc gia thành công ở châu Á.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Khung lý luận và tiêu chí phân loại hệ thống chính trị ở Chương 2.
- Các bài học thực chứng về xây dựng bộ máy hành chính liêm chính, tinh gọn và chế độ công vụ tại Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, khái niệm "hệ thống chính trị một đảng nổi trội" được định nghĩa cốt lõi như thế nào?
Nội dung cốt lõi của hệ thống chính trị một đảng nổi trội là cơ chế một đảng chính trị nắm giữ quyền lực hành pháp (quyền lực nhà nước) liên tục trong một thời gian dài trong bối cảnh vẫn tồn tại cơ chế đa đảng và có sự cạnh tranh chính trị hợp pháp từ các đảng đối lập.
2. Tiêu chuẩn định lượng để đo lường một đảng nổi trội của Giovanni Sartori và James Coleman khác nhau ra sao?
Theo James S. Coleman, một đảng được coi là nổi trội khi chiếm trên 70% số ghế trong Quốc hội. Trong khi đó, Giovanni Sartori xác định đảng nổi trội phải nắm giữ ít nhất 50% số ghế, tạo khoảng cách rất lớn với đảng đứng thứ hai và phải giành được đa số tuyệt đối trong ít nhất ba cuộc bầu cử liên tiếp.
3. Khái niệm "hệ thống chính trị" được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sử dụng thay thế khái niệm "chuyên chính vô sản" từ thời điểm nào?
Khái niệm "hệ thống chính trị" được Đảng Cộng sản Việt Nam lần đầu tiên sử dụng chính thức tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (tháng 3/1989) để thay thế cho tên gọi "hệ thống chuyên chính vô sản", và sau đó được hoàn thiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991).
4. Luận án khảo cứu cụ thể những trường hợp quốc gia nào và các đảng nổi trội tương ứng là gì?
Luận án khảo cứu ba trường hợp điển hình tại châu Á: Đảng Dân chủ Tự do (LDP) ở Nhật Bản, Đảng Dân chủ ở Hàn Quốc và Đảng Hành động Nhân dân (PAP) ở Singapore.
Kết luận
Luận án "Hệ thống chính trị một đảng nổi trội - Giá trị tham khảo cho Việt Nam" của tác giả Hoàng Ngọc Phương là công trình nghiên cứu chuyên ngành Chính trị học được triển khai hệ thống và chặt chẽ. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về hệ thống chính trị một đảng nổi trội, phân loại các mô hình chính trị trên thế giới và khảo cứu thực chứng ba trường hợp điển hình tại châu Á gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Công trình tổng kết những nét đặc trưng về năng lực quản trị, duy trì ổn định và phát triển kinh tế của mô hình đảng nổi trội, từ đó đề xuất các giá trị tham khảo khoa học có ý nghĩa thiết thực cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.