Chương 1 cũng trình bày chi tiết cấu trúc của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Chương này trình bày khái niệm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây, tổng quan cơ sở lý thuyết của lý thuyết giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin, và các lý thuyết có liên quan. Các khoảng trống nghiên cứu được nhận dạng, và việc lấp các khoảng trống nghiên cứu cũng được thảo luận trong chương này. Từ tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả đề xuất toàn bộ các khái niệm của mô hình nghiên cứu, và biện luận các lý do hình thành các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 2 còn diễn giải ý nghĩa của mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu – Chương này trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu một cách chi tiết như cách thức xây dựng thang đo, phương pháp 4 Giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin thu thập dữ liệu – cách thức lấy mẫu, và phương pháp phân tích dữ liệu. Trong chương này cũng trình bày chi tiết các thang đo của nghiên cứu. Chương 3 còn trình bày thống kê mô tả mẫu thu thập được của nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận – Chương này trình bày toàn bộ các kết quả phân tích dữ liệu của nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Cụ thể, các kết quả kiểm định thang đo và mô hình như phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định, và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, việc thảo luận kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết cũng được diễn giải một cách chi tiết. Chương 4 còn so sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan, và các đóng góp của nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận – Chương này tóm lược toàn bộ đề tài nghiên cứu cùng với các đóng góp của nghiên cứu về các mặt lý thuyết – phương pháp, về mặt thực tiễn – quản trị. Bên cạnh đó, chương 5 còn đưa ra các hàm ý quản trị có liên quan từ kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, những hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được trình bày trong chương này. 5 Giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Trong đó, bao gồm giới thiệu về khái niệm khái niệm hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây, tổng quan cơ sở lý thuyết của lý thuyết giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin, và các nghiên cứu có liên quan. Dựa trên cơ sở lý thuyết, một mô hình nghiên cứu để xem xét và đánh giá vai trò giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin trong bối cảnh của hệ thống hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây được đề xuất.1 Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.1 Hệ hoạch định nguồn lực tổ chức Hệ hoạch định nguồn lực tổ chức (ERP – Enterprise Resource Planning) đang là xu hướng của thế giới, ERP là hệ thống ứng dụng đa phân hệ giúp tổ chức quản lý các nguồn lực và điều hành tác nghiệp (Klaus & cộng sự, 2000). Hệ thống ERP được tích hợp các ứng dụng để hỗ trợ cho các chức năng cốt lõi của tổ chức. Bên cạnh đó, ERP là sự kết hợp các quá trình hoạt động riêng lẻ thành tổng thể của tổ chức, tích hợp hầu hết các hoạt động của tổ chức vào hệ thống duy nhất (Rich & Dibbern, 2013).
ERP mang lại các lợi ích như cải thiện chất lượng và hiệu quả kinh doanh bằng cách giữ cho quy trình nghiệp vụ hoạt động trơn tru, hỗ trợ nhà quản lý trong việc cung cấp thông tin ra quyết định, làm cho hoạt động của tổ chức hay doanh nghiệp linh hoạt và gắn bó hơn. ERP còn giúp các tổ chức giảm chi phí điều hành và cải thiện quá trình kinh doanh (Marston & cộng sự, 2011).2 Điện toán đám mây Điện toán đám mây (Cloud) đang là một khái niệm được sự chú ý ngày càng nhiều, 7 Giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin và là xu hướng chung của thế giới công nghệ (Nguyen, Nguyen & Misra, 2014). Tuy nhiên, điện toán đám mây không phải là công nghệ hoàn toàn mới, nó là sự kết hợp giữa các yếu tố của những dịch vụ công nghệ thông tin đã có sẵn. Một số nhà nghiên cứu cho rằng điện toán đám mây là đại diện tương lai của việc sử dụng công nghệ thông tin trong các tổ chức.
Cụ thể, Velte, Velte & Elsenpeter (2010) cho rằng sức mạnh của điện toán đám mây có tác động sâu sắc đến ngành công nghệ thông tin, các tổ chức sẽ không cần phải cài đặt phần mềm trên hệ thống thông tin của mình và không cần phải mua phần cứng hay phần mềm, mà chỉ đơn giản là thuê các dịch vụ công nghệ thông tin này của các nhà cung cấp.3 Hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây Hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây (Cloud-ERP) là hệ hoạch định nguồn lực tổ chức được đặt vào môi trường đám mây (Mell & Grance, 2011). Hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây có thể cung cấp sự linh hoạt, chi phí hiệu quả, khả năng mở rộng, khả năng tương thích, sự sẵn sàng và dữ liệu được cấu hình cho bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào (Usman & cộng sự, 2016). Bên cạnh đó, hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây cũng đang đạt được sự tăng trưởng rất nhanh trên thế giới (Albar & Hoque, 2018). Các loại hình dịch vụ của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây được mô tả chi tiết như ở Hình 2.1, trong đó ba thành phần chính bao gồm IaaS cho ERP, PaaS cho ERP, và SaaS cho ERP.
Cụ thể như sau: – IaaS cho ERP: khi sử dụng IaaS cho hoạt động của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức, các tổ chức thường thuê các máy chủ từ nhà cung cấp dịch vụ điện toán đám mây. Theo đó, các tổ chức vẫn có thể lựa chọn nhà cung cấp các giải pháp hệ hoạch định nguồn lực tổ chức và mua bản quyền phần mềm hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây (Schubert & Adisa, 2011). – PaaS cho ERP: dịch vụ nền tảng ở cấp độ này dùng cho việc phát triển phần mềm, kiểm thử, hoặc phân phối phần mềm, PaaS cho ERP không dành cho một hệ thống tích hợp và phần mềm đóng gói của các hệ thống hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây (Schubert & Adisa, 2011). 8 Giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin – SaaS cho ERP: vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây được liên kết với nhau.
Điều này cho phép các tổ chức lựa chọn được mô hình mà họ ưa thích, như vận hành hệ thống hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây trên đám mây nội bộ hoặc đám mây bên ngoài (Schubert & Adisa, 2011). Cơ sở hạ tầng Nền tảng Ứng dụng đám mây đám mây đám mây Người sử dụng Người sử dụng Người sử dụng (Trình duyệt) (Trình duyệt) (Trình duyệt) Ứng dụng Ứng dụng Ứng dụng (ERP) (ERP) Nền tảng Nền tảng Nền tảng (OS) Cở sở hạ tầng đám mây Cở sở hạ tầng đám mây Cở sở hạ tầng đám mây (ERP, OS, và phần cứng) (Phần cứng) (OS và phần cứng) Hình 2.1: Các loại hình dịch vụ Cloud-ERP Nguồn: Johnson (2017) 2.4 Lợi ích và thách thức của Cloud-ERP Một số lợi ích của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây là chi phí triển khai thấp, truy cập bất cứ lúc nào và bất cứ đâu, sắp xếp hợp lý quy trình nghiệp vụ, dễ dàng nâng cấp, yêu cầu dung lượng thấp, và tốc độ triển khai nhanh. Cloud- ERP còn giúp giảm chi phí hoạt động CNTT, đồng thời tăng hiệu quả sử dụng hệ thống, người sử dụng chỉ cần một máy tính cá nhân truy cập Internet là có thể tối đa hóa hiệu quả của các ứng dụng (Nguyen & cộng sự, 2014). Trong các loại hình dịch vụ của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây thì SaaS cho ERP được quan tâm nhiều hơn.
Khi một hệ thống hệ hoạch định nguồn lực tổ chức chạy trên trình duyệt thì như đang chạy một SaaS trên đám mây, các tổ chức sẽ có được các lợi ích của SaaS (Nguyen & cộng sự, 2014). Một mặt, các nhà cung cấp các dịch vụ hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây có thể cung cấp ba loại hình SaaS với lợi ích khác nhau (Bảng 2. 9 Giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin Bảng 2.1: Lợi ích và thách thức của SaaS trong Cloud-ERP SaaS Lợi ích Thách thức SaaS – hạ tầng Tối đa hóa sự linh hoạt để Chỉ là dịch vụ lưu trữ thuần túy với cơ đám mây chuyển đổi giữa các nhà cung cấu giá thấp cấp hoặc trong nội bộ tổ chức SaaS – nền Kết hợp của sự linh hoạt và tiết Nhà cung cấp ERP quản lý ứng dụng, tảng đám mây kiệm chi phí nhà cung cấp điện toán đám mây quản lý hạ tầng CNTT SaaS – ứng Tối đa hóa hiệu quả cho tất cả Nếu nhà cung cấp không cho phép tùy dụng đám mây các ứng dụng biến thì khách hàng không thể chuyển sang ứng dụng của nhà cung cấp khác Nguồn: Tác giả tổng hợp. Cụ thể, đối với SaaS dùng hạ tầng đám mây thì việc tối đa hóa sự linh hoạt để chuyển đổi giữa các nhà cung cấp hoặc trong nội bộ tổ chức.
Johnson (2017) cũng cho rằng, bên cạnh những lợi ích của hệ hoạch định nguồn lực tổ chức trên điện toán đám mây thì vẫn còn các thách thức của các dịch vụ SaaS (Bảng 2. Cụ thể, đối tới SaaS dùng nền tảng đám mây thì nhà cung cấp hệ hoạch định nguồn lực tổ chức quản lý ứng dụng, và nhà cung cấp điện toán đám mây quản lý hạ tầng CNTT.1 Lý thuyết giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin Lý thuyết giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin (IS business value) được Soh & Markus (1995) đề xuất và tổng hợp từ các quá trình tạo sinh giá trị kinh doanh của hệ thống thông tin của Lucas (1993); Beath, Goodhue & Ross (1994).