CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tổng quan chung “Hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro, nhưng cũng nhiều cơ hội để trụ vững và phát triển cho người biết nắm bắt” theo Stephen Wagner – Chuyên gia hàng đầu về Quản trị rủi ro. Hay nói cách khác rủi ro là một sản phẩm phụ tất yếu của mọi hoạt động. Các tổ chức không thể loại trừ hoàn toàn các rủi ro. Rủi ro của doanh nghiệp là thiệt hại do những nhân tố khó kiểm soát, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp (mục tiêu lợi nhuận, thị phần, thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp, an sinh xã hội…).
Quản trị rủi ro là tổng thể những giải pháp mà bộ máy quản trị doanh nghiệp cần phải tiến hành nhằm phát hiện, phòng ngừa hoặc làm giảm các thiệt hại khi có rủi ro. Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 và cấu trúc quản trị doanh nghiệp thì quản trị rủi ro là một phần không thể tách rời quản trị doanh nghiệp. Nó thể hiện ở ngay 3 tầng kiểm soát nội bộ các rủi ro: 1) Tổng giám đốc là Người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày (executive), có trách nhiệm kinh doanh an toàn hiệu quả tránh các rủi ro đổ vỡ theo các quy định của Hội đồng Quản trị và pháp luật; 2) Hội đồng Quản trị có trách nhiệm giám sát hoạt động của Tổng giám đốc để doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra; 3) Kiểm soát do Chủ sở hữu cử/bổ nhiệm hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm trước Chủ sở hữu giám sát toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, tổng giám đốc. Đó là 3 tầng lớp kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp, ngoài ra còn có kiểm toán độc lập, thanh tra, kiểm toán nhà nước nếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước.
Nói tóm lại rủi ro gắn liền với lợi ích. Trong kinh doanh thường thì rủi ro cao sẽ mang lại lợi ích cao, tuy nhiên trong một số trường hợp rủi ro cao sẽ không mang lại lợi ích thậm trí còn thua lỗ, phá sản. Quản trị rủi ro không chỉ bảo vệ tài sản mà còn giúp gia tăng giá trị và đem lại cơ hội cho doanh nghiệp phát triển. Việc xác định các rủi ro, đo lường, định lượng mỗi rủi ro một cách chính xác và toàn diện trên cơ sở liên tục điều chỉnh và phản ánh những thay đổi đó trong các quyết 2 định quản lý là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của các nhà quản lý các cấp: Các doanh nghiệp không thể loại trừ hoàn toàn các rủi ro mà cần phải tìm hiểu các rủi ro mà họ phải đối mặt, sau đó cần xác định khả năng tự quản lý rủi ro trong nội bộ doanh nghiệp và thiết lập các giải pháp phòng ngừa tối ưu để hạn chế các rủi ro cao hơn, ngăn ngừa và giảm thiểu các tổn thất nghiêm trọng, nâng cao hiệu quả hoạt động và tiết kiệm chi phí.
Việc xác định rủi ro phải phân tích dự đoán các nhân tố từ bên trong doanh nghiệp (internal) hay các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp (external). Cụ thể các nhân tố bên ngoài như môi trường kinh doanh, các quy định của pháp luật về thuế, phí, hải quan, lao động…; các dự báo về tốc độ tăng trưởng phát triển của ngành, nhu cầu, thu nhập bình quân đầu người, GDP, …; yếu tố chính trị; sự biến động về giá, tỷ giá…. Các nhân tố bên trong như các quy trình, quy định nội bộ trong doanh nghiệp, đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp… Từ việc phân tích nhân tố phát sinh rủi ro, rủi ro của doanh nghiệp còn có thể được chia làm 3 loại: 1) Rủi ro kinh doanh (từ môi trường bên ngoài, các đối tác…); 2) Rủi ro hoạt động (từ các hoạt động quy trình nội bộ, đội ngũ CBCNV); và 3) Rủi ro tuân thủ (từ việc tuân thủ pháp luật, các quy định). Bất kỳ tổ chức và công việc nào cũng đều đối diện với những sự kiện tác động có khả năng làm sai lệch mục tiêu ban đầu.
Những sự kiện này có thể nhận diện được hoặc đôi khi không thể nhận diện được. Chỉ khi được nhận diện và quản trị thích hợp, tổ chức sẽ chủ động kiểm soát và vì thế sẽ hạn chế được tác động của rủi ro. Có những rủi ro có thể dễ dàng nhìn thấy trước khi bắt đầu tiến hành công việc, nhưng cũng có những rủi ro chỉ nhìn thấy được khi đã xảy ra. Tổ chức càng có nhiều sự cố xảy ra càng minh chứng cho việc tổ chức không có đủ phương pháp và công cụ để nhận diện hiệu quả hoặc cũng có thể minh chứng cho việc tổ chức có thể thấy được rủi ro nhưng không có biện pháp phòng ngừa hợp lý.
Việc một sự cố xảy ra mà không có kế hoạch dự phòng sẽ dẫn đến mục tiêu tổ chức bị tác động. Mức độ ảnh hưởng nhỏ sẽ làm trễ tiến độ, vượt ngân sách, giảm 3 chất lượng, rối loạn nội bộ tổ chức, xa hơn nữa có thể làm thất bại nhiều mục tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến uy tín tổ chức và quan hệ với khách hàng. Vì thế, nói đến quản lý rủi ro tức là nói đến việc quản lý chủ động, tích cực hơn là xử lý sự cố thụ động. Ý nghĩa lớn nhất của quản lý rủi ro là khai phá những rủi ro tiềm ẩn chưa được nhận diện thành những rủi ro có thể nhận diện, song hành với việc phân tích và có giải pháp hợp lý để đối phó với những rủi ro ấy.
Quản lý rủi ro chính là quá trình xác định trước các rủi ro có thể xảy ra trong tổ chức, phân tích, và có giải pháp phù hợp nhằm mục tiêu tăng cơ hội thành công và giảm thiệt hại. Đây là quy trình dành cho mọi tổ chức và công việc, không quan tâm đến quy mô, tính chất hay lĩnh vực. Việc quản lý rủi ro cần được thực hiện theo các quy trình có thứ tự, dùng các công cụ phù hợp, và có giải pháp hiệu quả. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro và xây dựng hệ thống kiểm soát như đã nêu trên là vô cùng bức bách và tối quan trọng cho mọi tổ chức.
Tuy nhiên, quản trị rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm những thành phần gì, phương pháp xây dựng ra sao, phương pháp nào để đánh giá tính khả thi của hệ thống quản trị rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ, phương pháp nào để cải tiến, v.v… vẫn còn là thắc mắc của rất nhiều tổ chức. Một số tổ chức mơ hồ về vai trò và mối tương quan giữa quản trị rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ. Một số khác nhầm lẫn về mặt chức năng giữa kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ. Nhiều tổ chức mơ hồ về phương pháp tiến hành xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nhiều tổ chức không hiểu rõ sự tương quan của phòng quản trị rủi ro, hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và hệ thống phòng ban chức năng và quy trình hoạt động của tổ chức. Nhiều tổ chức gọi tên và nhiệm vụ của kiểm soát nội bộ bằng những tên gọi khác và mang những ý nghĩa khác, v. Bên cạnh đó, nền kinh tế toàn cầu trong những năm qua gặp nhiều rủi ro. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), kinh tế toàn cầu trong năm 2014 sẽ tiếp tục phục hồi và tăng trưởng cao hơn so với năm 2013, dự báo ở mức 3,6% (IMF) 4 và 3,2% (WB).
Triển vọng của các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản đều được dự báo theo chiều hướng tích cực với tốc độ tăng GDP lần lượt ở mức 2,6% và 1,6%. Kinh tế khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) mặc dù còn nhiều rủi ro nhưng dự báo vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng 1% năm 2014. Các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có khu vực châu Á, sẽ được hưởng lợi từ đà phục hồi tích cực của các nền kinh tế đầu tàu thế giới. Trung Quốc tiếp tục thực hiện kế hoạch tái cơ cấu kinh tế để hướng tới mục tiêu phát triển ổn định và bền vững hơn trong dài hạn thay vì tăng trưởng nóng; dự báo tăng trưởng của nền kinh tế này sẽ đạt mức 7,5% trong năm 2014.
Kinh tế khu vực Đông Nam Á được dự báo sẽ tăng 5,2% cao hơn mức tăng 4,8% của năm 2013. Giá cả hàng hóa trên thế giới được dự báo tiếp tục xu hướng giảm, ngoại trừ giá dầu có chiều hướng tăng nhẹ, không gây sức ép tăng nguy cơ lạm phát mạnh trở lại trên phạm vi toàn cầu trong năm 2014. Theo ngân hàng thế giới (WB), giá dầu thô bình quân của năm 2014 được dự báo ở mức 106 đô la Mỹ/ thùng, tăng nhẹ 1% so với năm 2013. Nhu cầu dầu thô trên toàn thế giới được dự báo tăng thêm ít nhất 1,5% so với năm 2013, lên mức 90,78 triệu thùng/ngày.
Trong khi đó, chỉ số giá bình quân của hàng hóa phi nhiên liệu có chiều hướng giảm, dự báo giảm nhẹ khoảng 0,2% so với năm 2013. Giá vàng tiếp tục đà giảm trong năm 2014, dự báo bình quân ở mức 1.360 đô la Mỹ/ounce, giảm 1,4% so với năm 2013. Chỉ số giá lương thực giảm khoảng 6% trong năm 2014 do triển vọng nguồn cung thuận lợi. Dòng vốn FDI toàn cầu được dự báo tiếp tục phục hồi trong năm 2014, có thể tăng lên mức 1.600 tỉ đô la, từ mức 1.400 tỉ đô la năm 2013, theo UNCTAD.
Luồng vốn gián tiếp nước ngoài ròng chảy vào các nước đang phát triển dự báo tăng mạnh trở lại trong năm 2014, lên mức 87,8 tỉ đô la, tăng 22% so với năm 2013. Trong khi đó, theo dự báo của IMF, thương mại toàn cầu sẽ tiếp tục phục hồi mạnh trong năm 2014 với mức tăng trưởng dự báo 4,9%, cao hơn so với mức 2,9% của năm 2013. 5 Mặc dù tăng trưởng với tốc độ cao hơn năm 2013 nhưng kinh tế toàn cầu vẫn đứng trước một số rủi ro trong năm 2014.