Phân tích giá trị thẩm mỹ cảnh quan ven biển Tuy An, Phú Yên cho du lịch, bảo tồn

Luận văn phân tích giá trị thẩm mỹ cảnh quan ven biển Tuy An, Phú Yên, đề xuất giải pháp kết hợp bảo tồn và phát triển du lịch bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học

2024

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giá trị thẩm mỹ cảnh quan ven biển Tuy An

Cảnh quan ven biển Tuy An, tỉnh Phú Yên sở hữu những giá trị thẩm mỹ cảnh quan độc đáo và nổi bật. Khu vực này được tạo thành bởi sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố tự nhiên như địa hình, thảm thực vật và đặc điểm hải văn. Cảnh quan Tuy An nổi tiếng với những bãi biển trải dài, vẩn nước xanh ngọc bích và những dải rừng dương coy bao phủ ven bờ. Các đặc điểm địa mạo độc đáo như vịnh, mũi, đảo nhỏ tạo nên một bức tranh thiên nhiên vô cùng hấp dẫn. Giá trị cảnh quan này không chỉ là tài sản thiên nhiên quý báu mà còn là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của du lịch trong khu vực.

1.1. Đặc điểm địa hình và địa mạo

Khu vực ven biển Tuy An được định hình bởi các quá trình địa chất và địa mạo phức tạp. Cảnh quan địa hình bao gồm các bãi biển cát trắng, những vách đá vôi cao vút và các vịnh hẹp tạo ra những điểm nhìn tuyệt đẹp. Trầm tích biển từ các thế kỳ trước đã tạo nên độ sâu và hình dạng độc đáo của bờ biển. Những đặc điểm này làm cho cảnh quan ven biển trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du khách.

1.2. Hệ sinh thái và thảm thực vật

Hệ sinh thái ven biển Tuy An rất đa dạng với sự hiện diện của rừng dương coy, cỏ biển và các loài động vật biển phong phú. Thảm thực vật bản địa tạo nên một giá trị sinh thái vô cùng quan trọng. Những khu vực ngập nước ven bờ là nơi sinh sống của nhiều loài cá, tôm, cua và những loài chim nước quý hiếm. Sự bảo tồn hệ sinh thái này là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của du lịch.

II. Tiềm năng phát triển du lịch bền vững

Du lịch ven biển Tuy An có tiềm năng phát triển rất lớn dựa trên những giá trị cảnh quan sẵn có. Với giá trị thẩm mỹ cảnh quan đặc sắc, khu vực này có thể trở thành một điểm đến du lịch sinh thái hàng đầu. Phát triển du lịch cần được lập kế hoạch một cách khoa học để tránh ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Các hoạt động du lịch bền vững như trekking, du lịch sinh thái, thuyền buồm có thể được phát triển mà không làm hư hại cảnh quan thiên nhiên. Nhu cầu từ du khách ngày càng tăng đối với những điểm đến có giá trị cảnh quan nguyên vẹn, khiến Tuy An trở thành lựa chọn lý tưởng.

2.1. Các loại hình du lịch sinh thái

Tuy An có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau. Du lịch sinh thái tập trung vào quan sát thiên nhiên, khám phá rừng ngập mặn và các loài động vật biển. Du lịch văn hóa có thể kết hợp với các hoạt động truyền thống của cộng đồng địa phương. Các hoạt động du lịch này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp bảo vệ và nâng cao nhận thức về giá trị cảnh quan của khu vực.

2.2. Lợi ích kinh tế và xã hội

Phát triển du lịch ở Tuy An mang lại nhiều lợi ích kinh tế-xã hội cho cộng đồng địa phương. Du lịch tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình và phát triển các dịch vụ liên quan. Giá trị kinh tế của cảnh quan được thể hiện qua chi tiêu của du khách. Tuy nhiên, cần đảm bảo rằng sự phát triển này không làm suy giảm giá trị cảnh quanhệ sinh thái của khu vực.

III. Chiến lược bảo tồn cảnh quan ven biển

Bảo tồn cảnh quan ven biển Tuy An là một yêu cầu cấp thiết để duy trì giá trị thẩm mỹ cảnh quanhệ sinh thái. Các hoạt động khai thác tài nguyên như khai thác cát, nuôi trồng thủy sản quá mức và xây dựng không lập kế hoạch đã gây ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên. Bảo vệ môi trường biển đòi hỏi sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, cộng đồng và các nhà đầu tư. Việc thiết lập các khu bảo tồn, khu vực du lịch được quản lý và các quy định khai thác chặt chẽ là những biện pháp quan trọng. Bảo tồn cảnh quan không chỉ bảo vệ di sản thiên nhiên mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch.

3.1. Các khu vực ưu tiên bảo tồn

Tuy An có những khu vực cần ưu tiên bảo tồn cao nhất. Những khu rừng ngập mặn là hệ sinh thái quan trọng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái quý báu. Các khu vựcgiá trị cảnh quan đặc biệt như vịnh, đảo nhỏ cần được bảo vệ khỏi phát triển không bền vững. Khu vực nước nông là nơi sinh sản của cá và tôm cần được chăm sóc đặc biệt. Thiết lập khu bảo tồn biển và các quy định sử dụng đất phù hợp là những biện pháp quan trọng để bảo vệ cảnh quan này.

3.2. Cơ chế quản lý và pháp lý

Một cơ chế quản lý hiệu quả là nền tảng của bảo tồn cảnh quan. Cần thiết lập các quy định pháp lý rõ ràng về sử dụng đất, khai thác tài nguyên và phát triển du lịch. Quản lý bền vững đòi hỏi sự giám sát thường xuyên của cảnh quanhệ sinh thái. Các chính sách cần khuyến khích du lịch sinh thái và ngăn chặn những hoạt động gây hại. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quy trình quản lý là yếu tố then chốt cho thành công.

IV. Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển du lịch

Bảo tồnphát triển du lịch không phải là hai mục tiêu đối lập mà là những mục tiêu bổ sung cho nhau. Giá trị cảnh quan nguyên vẹn là yếu tố hấp dẫn khách du lịch, do đó việc bảo tồn cảnh quan là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển lâu dài của du lịch. Ngược lại, du lịch bền vững có thể cung cấp nguồn tài chính và động lực chính trị để hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn. Phát triển kinh tế biển xanh tại Tuy An dựa trên việc kết hợp bảo tồn cảnh quan với du lịch sinh thái. Sự cân bằng giữa khai thác và bảo tồn là chìa khóa để duy trì giá trị thẩm mỹ cảnh quan cho các thế hệ tương lai.

4.1. Mô hình phát triển bền vững

Mô hình phát triển bền vững cần đặt giá trị cảnh quanbảo tồn hệ sinh thái ở vị trí trung tâm. Du lịch sinh thái với khả năng chứa đựng giới hạn là cách tiếp cận phù hợp. Cộng đồng địa phương nên được hưởng lợi trực tiếp từ du lịch thông qua các doanh nghiệp du lịch nhỏ. Đa dạng hóa hoạt động kinh tế giảm áp lực lên tài nguyên biển. Giáo dục du lịch bền vững cho cả du khách và cộng đồng là điều cần thiết.

4.2. Vai trò của cộng đồng địa phương

Cộng đồng địa phương là những người quản lý cảnh quan lâu đời nhất. Sự tham gia tích cực của họ trong bảo tồnphát triển du lịch là yếu tố quyết định thành công. Chương trình đào tạo về quản lí tài nguyên và du lịch bền vững cần được triển khai. Cộng đồng cần được trao quyền ra quyết định trong các quy hoạch du lịch ảnh hưởng đến cảnh quan nơi họ sinh sống. Sự công bằng xã hội và tôn trọng giá trị văn hóa của cộng đồng là nền tảng của mô hình phát triển bền vững.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Hướng nghiên cứu về cảnh quan biển, đảo và ven biển 1.

Quan niệm cảnh quan và vai trò của cảnh quan biển, đảo Trước đây khái niệm cảnh quan được hiểu đơn giản là phong cảnh. Cho đến những năm đầu của thể kỷ XX các nhà địa lý Nga đã đưa ra khái niệm về cảnh quan. Ixatrenko đã đưa ra khái niệm cảnh quan năm 1965 như sau: “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một miền cảnh quan, một đới cảnh quan và nói chung của bất kỳ một đơn vị khu vực lớn nào, bộ phận nào đặc biệt có tính đồng nhất về mặt địa đới cũng như phi địa đới và có một cấu trúc cá biệt, cấu tạo hình thái riêng”. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về cảnh quan lục địa và ven biển khá đa dạng.

Các nhà cảnh quan đã xây dựng hệ thống phân vị phân loại với các chỉ tiêu cụ thể để thành lập bản đồ cảnh quan lục địa ở các tỉ lệ khác nhau. Hiện nay, có 2 hệ thống phân loại cảnh quan được sử dụng: (i). Hệ thống phân loại cảnh quan của Vũ Tự Lập (1976) [4] gồm: hệ - lớp - phụ lớp - nhóm - kiểu - chủng - loại - thứ cảnh quan; (ii). Hệ thống phân loại cảnh quan của các nhà địa lý ở Viện Địa lý và Đại học Quốc gia Hà Nội như nhóm tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh và tác giả Nguyễn Cao Huần dựa theo bảng phân loại của Nhicolaev, gồm 11 cấp đơn vị: thống - hệ - phụ hệ - lớp - phụ lớp - nhóm - kiểu - phụ kiểu - hạng - loại cảnh quan.

Trong quá trình thực hiện các nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam, thấy rằng nếu kiểu xếp dưới lớp trong nhiều trường hợp không thể giải thích được tại sao số kiểu (cấp nhỏ hơn) lại ít hơn số lớp, lớp phụ (cấp cao hơn cấp kiểu) trong một lãnh thổ cụ thể. Một điều khá rõ, nếu tính theo chỉ số sinh khí hậu và thổ nhưỡng thì nó lại rất phù hợp cho đơn vị cấp lớp và phụ lớp CQ. Câu hỏi đặt ra, vậy kiểu CQ xếp trên lớp CQ hay dưới lớp CQ trong hệ thống phân loại? Nguyễn Cao Huần cùng với các nghiên cứu sinh đã đề xuất hệ thống đơn vị phân loại cảnh quan: Hệ/phụ hệ – Kiểu/phụ kiểu – Lớp/phụ lớp – Hạng – Loại CQ. Trong đó: Hệ - phụ hệ - kiểu – phụ kiểu là các đơn vị được phân ra dựa vào chỉ số nhiệt ẩm trong phân vị địa ô và địa đới; Lớp – phụ lớp – hạng là các đơn vị phân chia chủ yếu dựa vào nền tảng rắn trong sự đồng nhất tương đối của nền nhiệt ẩm; Loại cảnh quan là đơn vị nhỏ nhất, được phân chia dựa vào thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật tự nhiên và nhân tác.

5 Đối với cảnh quan biển, đảo mới chỉ cố một số nghiên cứu: - Công trình “Bước đầu phân loại cảnh quan biển và hải đảo Việt Nam”, Nguyễn Thành Long - Nguyễn Văn Vinh [5]. Trong đây chỉ rõ trong biển Đông, các đảo ven bờ do cấu trúc địa chất gần gũi với đất liền, phần lớn các cảnh quan có cấu trúc hình thái tương tự như trên đất liền. Sự phân hóa các cảnh quan biển Đông phụ thuộc vào vĩ độ và tính chất gió mùa nhiệt đới, cũng như sự phân tầng nước và dòng chảy, địa hình đáy biển. Trên quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp, địa lý biển và hải đảo bước đầu đã có thể đề xuất một hệ thống phân loại cảnh quan cho khu vực lãnh thổ, lãnh hải (biển và hải đảo) Việt Nam ở tỷ lệ nhỏ gồm 4 cấp: Hệ, Lớp, Phụ lớp và kiểu cảnh quan.

- Các công trình nghiên cứu phân vùng cảnh quan ven biển tiêu biểu đó là: “Phân vùng sinh thái cảnh quan dải ven biển Việt Nam để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường” của Phạm Hoàng Hải (2006) [6]; “Phân vùng cảnh quan Việt Nam - Nguyên tắc và hệ thống các đơn vị” của Phạm Hoàng Hải (2000) [7]; “Phân vùng địa lý tự nhiên đất liền, đảo - biển Việt Nam và lân cận” của Nguyễn Văn Nhưng, Nguyễn Văn Vinh (1998) [8]… - Đối với nghiên cứu chung về biển, đảo Việt Nam được đề cập trong các công trình “Giới thiệu về biển, đảo Việt Nam” (Hà Nguyễn, 2016) [9]; “Địa chất, khoáng sản và môi trường biển đảo Việt Nam” (Đỗ Công Dụ, 2019) [10]; “Tài nguyên, môi trường và chủ quyền biển, đảo Việt Nam” (Nguyễn Chu Hồi, 2020) [11];… Các công trình này đã chỉ ra vị trí, vai trò của biển, đảo Việt Nam trong Biển Đông như: Điều kiện tự nhiên; các khu vực biển, đảo, thềm lục địa của Việt Nam trong Biển Đông; các nguồn tài nguyên biển, đảo và vai trò của biển, đảo trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Nghiên cứu biển, đảo Việt Nam trong tâm thức người Việt; quá trình vươn ra và làm chủ biển, đảo quê hương và vấn đề biển, đảo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. - “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tới môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội một số vùng biển đảo điển hình ở Việt Nam” (Nguyễn Đại An, Nguyễn Thị Kim Dung, 2016) [12] khái quát các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội một số vùng biển đảo điển hình ở Việt Nam, vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sự tác động của nó tới môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội ở các vùng biển đảo cùng các giải pháp ứng phó và thích ứng, nhằm giảm thiểu các hậu quả của biến đổi khí hậu; “Phát huy thế mạnh biển đảo Việt Nam trong hoạt động thể thao và du lịch” (Phạm Hồng Lâm, 2018) [13] khái quát những vấn đề về tiềm năng, thách thức của biển đảo nước ta. Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy thế mạnh của biển, đảo trong hoạt động thể thao và du lịch; “Phát triển bền vững kinh tế - xã hội biển, đảo Việt Nam trong thế kỷ của đại dương” (Vũ Thị Kim Thanh, 2014) [14] đã khái quát chung về vùng biển Việt Nam.

Tài nguyên biển Việt Nam và vấn đề phát triển bền vững. Cung 6 cấp những thông tin cơ bản về vị trí, tiềm năng, thực trạng khai thác của các ngành kinh tế biển và định hướng phát triển bền vững kinh tế xã hội biển đảo. - “Quản lý bền vững biển, đảo Việt Nam” (Nguyễn Chu Hồi, 2018) [15] trình bày về vị trí, tiềm năng của biển, đảo Việt Nam, tập trung làm rõ một số yếu kém, hạn chế trong quá trình khai thác, quản lý biển, đảo nước ta những năm qua, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng, nhiệm vụ quản lý biển, đảo quốc gia theo hướng bền vững trong những năm tiếp theo. - “Sinh thái cảnh quan biển vịnh Bắc Bộ, Việt Nam: Phần biển Việt Nam” (Hà Quý Quỳnh, 2016) [16] giới thiệu tổng quan về vùng biển vịnh Bắc Bộ, các lý thuyết về sinh thái cảnh quan biển, nhân tố hình thành và hệ thống sinh thái cảnh quan và phụ kiểu sinh thái cảnh quan vịnh Bắc Bộ.

Như vậy: Có thể thấy, mặc dù có nhiều nghiên cứu cảnh quan biển, đảo được thực hiện cho đến nay, nhưng nghiên cứu cảnh quan biển (dưới nước) của Việt Nam còn ở mức độ rất khiêm tốn. Tất cả các nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến cảnh quan phần nổi, phân biệt biển, đảo, ven biển và lục địa, tập trung xác định cấu trúc, chức năng của cảnh quan lục địa, ven biển và đảo. Chưa có cảnh quan nào đề cập đến sự tổng hợp giữa cảnh quan trên bề mặt biển với cảnh quan đáy biển và cảnh quan cột nước thành một thể thống nhất. Chưa có một hệ thống phân loại, phân vùng nào được đưa ra về cảnh quan biển đảo.

Cũng như chưa có nghiên cứu nào lập bản đồ cảnh quan có sự nối tiếp từ lục địa – ven biển – biển – đảo. Hệ thống phân loại cảnh quan, đặc điểm cấu trúc cảnh quan Phân loại đã được coi là vấn đề cốt lõi của nghiên cứu cảnh quan kể từ đầu thế kỷ XX. Từ “phân loại” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “táxis”, taxonomy hay classification system trong tiếng Anh. Về mặt cảnh quan, các phân loại khác nhau có thể được thiết lập dựa trên cấu trúc, động lực, các yếu tố lịch sử và quy mô không gian.

a) Phân loại và phân vùng cảnh quan trên đất liền Hiện nay, trường phái cảnh quan học Nga (Liên Xô cũ) và Việt Nam tồn tại 3 quan niệm về cảnh quan: 1. Quan niệm cảnh quan là khái niệm chung; 2. Quan niệm kiểu loại (phân kiểu); 3. Quan niệm cá thể (phân vùng).

Quan niệm cảnh chung được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, bao hàm cả trong phân loại và phân vùng cảnh quan. Phân loại đã được coi là vấn đề cốt lõi của nghiên cứu cảnh quan kể từ đầu thế kỷ XX. Có hai hệ thống phân loại CQ ưu thế ở Liên Xô cũ: A. Ixatsenko (1969, 1991) [2]xây dựng theo hệ phân vị của các đơn vị đồng phụ thuộc gồm 8 cấp: kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại.

Theo Nikolaev (2006) [17], hệ thống đơn vị phân 7 loại gồm: thống, hệ, phụ hệ, bộ (được phân chia trong phạm vị xứ địa lý tự nhiên), lớp, phụ lớp, nhóm, kiểu, phụ kiểu, hạng, phụ hạng, loại, loại phụ. Theo Công ước về cảnh quan Châu Âu [18]: "Đặc điểm cảnh quan là một biểu hiện từ sự kết hợp đặc biệt của các yếu tố tự nhiên và văn hoá làm cho một nơi khác biệt với các nơi khác, tốt hơn hoặc xấu hơn". Các phương pháp đánh giá đặc điểm cảnh quan (LCA) được phát triển ở Anh và Pháp vào đầu những năm 1990 và đã trở thành hướng nghiên cứu cảnh quan quan trọng trên khắp lãnh thổ châu Âu [19] [20]. Mục tiêu của chúng nhằm tích hợp các khía cạnh tự nhiên, văn hóa của cảnh quan và nhận thức của con người trong việc định hướng không gian phục vụ quy hoạch và phát triển.

Phân tích toàn diện về phân loại cảnh quan ở Châu Âu [21] cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các hệ thống phân loại khác nhau được áp dụng cho các quốc gia Châu Âu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ