Chương 1. TỔNG QUAN VỀ FRIT VÀ MEN FRIT 1. Khái niệm Lớp phủ gồm hai loại: - Lớp phủ silicat (men). - Lớp phủ oxyt.
Lớp phủ silicat gồm: - Lớp phủ tráng lên sản phẩm gốm sứ hay còn được gọi là men sứ. - Lớp phủ tráng lên kim loại. Vậy men sứ được định nghĩa như sau: Men về bản chất là một lớp thủy tinh mỏng, chiều dày từ 0,1 0,4mm phủ lên bề mặt xương gốm sứ. Nhiệt độ nóng chảy phụ thuộc vào nhiệt độ nóng chảy của xương, thông thường trong khoảng 900 1400 oC.
Tuy nhiên so với thủy tinh thông thường thì nó cũng có những tính chất khác. Nó không đồng nhất, lớp trên khi nung thì phản ứng với môi trường lò nung, lớp dưới thì phản ứng với xương. Ngoài ra trong men còn có những chất không tan hay kết tinh. Tác dụng của men Men có tác dụng làm cho bề mặt sản phẩm trở nên sít đặc lại.
Điều này nâng cao được tính chất kỹ thuật và sử dụng cũng như chất lượng trang trí của sản phẩm. Lớp men phủ thành một màng thủy tinh mỏng làm tăng độ bền cơ học, bền hóa học, bền điện của sản phẩm đồng thời bảo vệ cho sản phẩm khỏi bị xâm nhập của chất lỏng và chất khí, làm cho bề mặt nhẵn bóng và có độ ánh đẹp, nâng cao chất lượng, tính thẩm mỹ của sản phẩm. Men còn bảo vệ các chi tiết trang trí khác nằm dưới men. Báo cáo khóa luận tốt nghiệp 6 Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục 1.
Nguyên nhân tại sao sử dụng men frit cho gạch ốp lát ceramic. Theo phạm vi nhiệt độ người ta chia men thành các loại: - Men dễ chảy có nhiệt độ nung từ 710 1120oC. - Men chảy trung bình có nhiệt độ nung từ 1060 1200oC. - Men khó chảy có nhiệt độ nung từ 1200 1280oC.
- Men rất khó chảy có nhiệt độ nung lớn hơn 1280oC. Do nhiệt độ nung của men cho gạch ốp ceramic khoảng từ 1080 1100oC và cho gạch lát ceramic khoảng 1140 1190oC. Ứng với nhiệt độ như vậy nên phải sử dụng men dễ chảy hoặc men chảy trung bình. Và để được các loại men như vậy thì ta phải sử dụng các chất chảy: PbO, B2O3, alkali, trường thạch theo tỷ lệ thích hợp.
Tuy nhiên những chất chảy này đa số đều hòa tan trong nước và rất độc nên phải frit hóa. Sau đó lấy frit cộng với cao lanh, và các nguyên liệu khác như đất sét, tràng thạch, Al2O3 tạo thành men frit phù hợp để sản xuất sản phẩm gạch men ốp lát ceramic. Khái niệm Frit là quá trình nấu chảy trước phối liệu ở nhiệt độ cao sau đó làm lạnh đột ngột trong nước lạnh để tạo những hạt nhỏ giúp quá trình nghiền dễ hơn. Frit được biểu thị như một hỗn hợp thủy tinh nóng chảy hay còn gọi là quá trình thủy tinh hóa.
Frit còn được coi như một men chảy trước. Tác dụng của frit - Frit sẽ làm cho nhiệt độ nóng chảy của men giảm xuống khoảng 60 80oC. - Frit sẽ làm tăng độ bóng của men. - Frit sẽ chuyển hóa những nguyên liệu dễ hòa tan trong nước thành các nguyên liệu khó tan, và khuyếch tán những chất không hòa tan (ZrO2).
- Frit sẽ khử được tính độc hại của các oxyt gây độc có trong men như oxyt chì. Báo cáo khóa luận tốt nghiệp 7 Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục - Frit giúp cho quá trình đồng nhất và phân tán các oxyt gây màu trong men tốt hơn. Frit thường tiến hành ở nhiệt độ = 1250 1400oC. Frit nấu đúng phải trong suốt, không còn những phần không nóng chảy.
Để nhận biết thì người ta dùng kẹp kéo thành sợi mỏng, nếu sợi không thấy những chỗ chưa chảy là được, ngược lại phải nấu tiếp. Nếu frit chưa đạt, khi nghiền sẽ xảy ra sự thủy phân dẫn đến khuyết tật men. Men frit Men frit là loại men dễ chảy. Các loại men frit nói chung có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn men sống từ 60 80 oC.
Men frit được tạo ra từ 80 90% và 10 20% cao lanh, đất sét chưa nung. Vì frit có nhược điểm là rất dễ lắng nên ta phải cho thêm cao lanh, đất sét vào để chống lắng, triệt tiêu kiềm tự do và để men gắn chặt vào xương. Ngoài ra người ta còn đưa vào men frit một lượng nhỏ STPP và chất hữu cơ CMC để điều chỉnh độ nhớt của men, để tăng hiệu quả quá trình nghiền, và để chống lắng. Khi nung thì giữa men và xương hình thành một lớp trung gian nhưng nhiều khi không đủ nên phải tráng một lớp engob để hổ trợ cho lớp trung gian và để che những khuyết điểm hay bề mặt lồi lõm của xương và làm cho chất màu nổi lên men đẹp hơn.
Engob là lớp phủ lên xương gốm, dùng để: - Tạo một lớp trung gian giữa xương gốm và một lớp men. - Che phủ xương gốm không có màu thích hợp (chẳng hạn ở sành xốp hay dạng đá). - Che phủ các khuyết tật trên xương. - Điều chỉnh hệ số α giữa men và xương.
- Tạo hiệu quả trang trí của lớp màu tráng lên. Báo cáo khóa luận tốt nghiệp 8 Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục - Trong trường hợp engob dùng để thay men, nó phải được cho thêm chất trợ dung thích hợp (nếu không phải nghiền thật mịn). Engob có tính chất như men đất. (Men đất chính là lấy những hạt đất sét làm xương mịn nhất) Trong thành phần của nó người ta dùng đất sét dễ chảy có màu thích hợp cùng trường thạch, thạch anh, cao lanh hay chính bản thân men.
Engob làm men đất có thể được dùng để trang trí (nếu không tráng men). Vì engob là trung gian giữa xương và men, tức không thô như xương nhưng không chảy như men. Engob nếu tráng lên xương đã nung phải có độ co khi sấy nhỏ. Muốn engob màu thì phải dùng đất sét trắng, phụ gia và các oxyt gây màu.
Ví dụ: engob màu xanh dương thêm 1 3%Co3O4, xanh lá thì 1 3%CuO, nâu thì 5 10%MnO2, và đỏ nâu thì 3 8%Fe2O3. Engob ở gạch ốp và lát thì khác nhau, ở gạch ốp chảy hơn bên gạch lát. Lớp engob chống dính: có thành phần chính là những nguyên liệu thô, để tránh các giọt men nhỏ bám ở mặt dưới gạch dính vào con lăn lò, làm bẩn con lăn và làm thay đổi nhiệt độ ảnh hưởng tới xương. Màu gốm, men màu 1.
Bản chất của chất màu gốm [3]. Chất màu gốm = chất tạo màu + chất mang màu + chất tạo thủy tinh + chất trợ màu. Trong đó: - Chất tạo màu: chính là những sắc tố (pigment). - Chất mang màu: là bán thành phẩm để sản xuất chất màu.
Chúng thường là các hợp chất tạo khoáng có mạng tinh thể nhất định. Nó quyết định là màu đem dùng có bền trong quá trình sử dụng và sản xuất không. - Chất tạo thủy tinh: hay còn gọi là chất trợ dung, nó giúp hạ thấp nhiệt độ nung, có tác dụng làm tăng cường tác dụng của chất màu gốm. Báo cáo khóa luận tốt nghiệp 9 Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục Yêu cầu của chất màu gốm là phải ổn định trong quá trình sản xuất cũng như quá trình sử dụng.
Nó phụ thuộc vào việc sử dụng chất mang màu. Sự ổn định của chất mang màu lại phụ thuộc vào cấu trúc tinh thể của nó. Một số kiểu mạng lưới tinh thể của chất mang màu như: spinen 1, spinen 2, zircon, corun … Ngoài ra còn có chất mang màu dạng khác là các oxyt không màu có cấu trúc tinh thể như corun. Các oxyt tạo màu hòa tan vào trong nó tạo thành dung dịch rắn.
Men màu Men màu cũng giống như men trong, men đục, tuy nhiên trong bài men của nó có thêm một ít % hàm lượng các chất màu để tạo ra màu thích hợp. Phân loại frit và men frit 1. Phân loại frit [11,12]. Trong công nghiệp, frit biểu thị cho một hỗn hợp thủy tinh nóng chảy được làm lạnh đột ngột trong nước.
Frit được sử dụng như là một chất cơ bản trong thành phần của men, có nhiệt độ nóng chảy thấp để tạo hợp chất không tan. Nhiều loại frit với những đặc tính khác nhau về khả năng nóng chảy, độ sáng, độ đục và độ mờ ngày nay có sẵn trên thị trường. Tùy theo đặc tính của chúng mà được phân loại như sau. Frit khó chảy Thành phần của loại frit nay nằm trong khoảng sau: - SiO2: 50 60%.
- Chất chảy: Na2O + K2O + PbO + B2O3 = 20 25%. - Chất ổn định: Al2O3 + ZnO + BaO + CaO + MgO thường nhiều nhất là 7 9%. Phối liệu chứa hàm lượng SiO2 cao nó sẽ làm tăng nhiệt độ nóng chảy của frit và độ nhớt cao. Loại này có độ trong suốt và bóng láng đẹp.
Frit này chủ yếu dùng để làm men cho những sản phẩm có nhiệt độ nóng chảy cao. Ngoài ra nó còn đưa vào một lượng nhỏ cho các bài men khác. Báo cáo khóa luận tốt nghiệp 10 Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục 1. Frit có nhiệt độ nóng chảy trung bình Là frit mà thành phần của nó chứa hàm lượng SiO2 nằm trong khoảng 35 50% và các oxyt giúp cho quá trình nóng chảy chiếm khoảng 30 40%.
Frit này được sử dụng rất nhiều ở các nhà máy sản xuất gạch ốp lát ceramic. Độ trong suốt và bóng láng của các loại men frit này còn tùy thuộc vào thành phần, hàm lượng va mức độ nghiền mịn của men. Đôi khi chúng được sử dụng với hàm lượng ít để chuẩn bị cho các loại men đặc biệt có nhiệt độ cao như men giả da, men đá hoa cương trắng. Do bản chất dễ chảy men này được phép đưa vào một lượng lớn nguyên liệu không frit hóa và giúp cho quá trình kết tinh đối với men matt.
Frit dễ chảy Là frit mà trong thành phần của nó chứa các oxyt chịu lửa thấp. Do khả năng chảy cao frit này được gọi là chất chảy. Tùy tác nhân dễ chảy đã chứa trong đó chúng ta có thể phân ra các loại chứa chì (silicat chì) và các loại không chứa chì (các chất chảy là B2O3 và alkali). Loại có chì: - PbO: 65% - SiO2: 35% - PbO: 75% - SiO2: 25% - PbO: 85% - SiO2: 15% Loại không có chì: - Kiềm: 5 15% - Kiềm thổ: 5 10% - B2O3: 20 30% - SiO2: 40 50% Frit này sẽ làm hạ nhiệt độ nung của men.
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp 11 Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục 1.