Chương 1: Đặt vấn dé: Chúng tôi nêu lên sự cần thiết nghiên cứu dé tài này, đồng thời khái quát nội dung, mục đích nghiên cứu. — Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi trình bày khái niệm, chức năng và vai trò dự báo. Ngoài ra, chúng tôi trình bày chi tiết phương pháp dự báo bằng mô hình hồi qui, mô hình ARIMA. — Chương 3: Tổng quan: Ở chương nay, chúng tôi nêu khái quát về điều kiện sinh thái của Việt và vai trò của lúa gạo đối với đời sống của chúng ta và các nhân tố tác động đến sản xuất lúa gạo.
— Chương 4: Nội dung và Kết quả nghiên cứu: Chúng tôi nghiên cứu khái quát về tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của thế giới, phân tích tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam. Từ đó chúng tôi tiến hành dự báo sản lượng, xuất khẩu lúa gạo và giá cả nội địa, xuất khẩu trong giai đoạn 2005- 2010. Ngoài ra, chúng tôi xây dựng và phân tích dường cung gạo của thế giới. Cuối cùng chúng tôi dé ra một số chiến lược, chính sách sản xuất và xuất khẩu lúa gạo phù hợp.
— Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chúng tôi trình bày lại những kết quả dự báo và đưa ra những kiến nghị về chính sách, chiến lược cần thiết và phương pháp dự báo. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm dự báo Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tinh chất xác suất vé mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã để ra trong tương lai. Tính chất của dự báo Dự báo mang tính xác suất: Mỗi đối tượng dự báo đều vận động theo một quy luật nào đó, mỗi quỹ đạo nhất định nào đó, đồng thời trong quá trình phát triển nó luôn luôn chịu sự tác động của môi trường hay các yếu tố bên ngoài.
Bản thân môi trường hay các yếu tố tác động không phải đứng im mà luôn luôn trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng. Về phía chủ thể dự báo, những thông tin và hiểu biết về đối tượng ở tương lai bao giờ cũng nghèo nàn hơn hiện tại. Vì vậy, dù trình độ dự báo có hoàn thiện đến đâu cũng không dám chắc rằng đánh giá dự báo là hoàn toàn chính xác. Hay nói cách khác dự báo bao giờ cùng mang tính xác suất.
Dự báo là đáng tin cậy: Dự báo mang tính xác suất nhưng đáng tin cậy vì nó dựa trên những cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học. Đó là phép biện chứng duy vật và lịch sử, hệ thống các lý luận khoa học về kinh tế và xã hội, phương pháp và công cụ xử lý thông tin ngày càng hiện đại. Xét về mặt bản chất, dự báo là sự phan ánh vượt trước, là những giả thiết về sự phát triển của đối tượng dự báo trong tương lai được đưa ra trên cơ sở nhận thức các quy luật phát triển và những điều kiện ban đầu với tư cách là những giả thiết. Theo đà phát triển của khoa học — kỹ thuật, trình độ nhận thức quy luật và các điều kiện ban đầu ngày càng được hoàn thiện thì độ tin cậy của dự báo cũng không ngừng được nâng cao.
Dự báo mang tính đa phương án: Mỗi dự báo được thực hiện trên những tập hợp các giả thiết nhất định — dự báo có điều kiện. Tập hợp các giả thiết như vậy gọi là phông dự báo. Dự báo có thể được tiến hành trên các phông dự báo khác nhau do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau và vì vậy có thể có nhiều phương án dự báo khác nhau. Tính đa phương án một mặt là thuộc tính khách quan của dự báo nhưng mặt khác lại phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý, nó làm cho việc ra quyết định cũng như chỉ đạo thực hiện quyết định quản lý trở nên linh hoạt hơn, dễ thích nghi với sự biến đổi vô cùng phức tạp của tình hình thực tế.
Chức năng và vai trò của dự báo 2. Chức năng Theo quan điểm của triết học, dự báo là một hình thức nhận thức thế giới, nhận thức xã hội. Nó có hai chức năng cơ bản: — Chức năng tham mưu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích xu hướng vận động và phát triển trong quá khứ, hiện tại và tương lai, dự báo sẽ cung cấp thông tin cần thiết, khách quan làm căn cứ cho việc ra quyết định quản lý và xây dựng chiến lược, kế hoạch hoá các chương trình, dự án. Người quản lý và hoạch định chiến lược, người lập kế hoạch có nhiệm vụ phải lựa chọn trong số các phương án có thể có, tìm ra các phương án có tính khả thi cao nhất, có hiệu quả cao nhất.
Để thực hiện tốt chức năng này, dự báo phải thật sự đảm bảo tính khách quan, khoa học và tính độc lập tương đối với các cơ quan quan lý và hoạch định chính sách. - Chức năng khuyến nghị hay điều chỉnh: Với chức năng này dự báo tiên đoán các hậu quả có thể nảy sinh trong quá trình thực hiện các chính sách kinh tế — xã hội nhằm giúp các cơ quan chức năng kịp thời điều chỉnh mục tiêu cũng như cơ chế tác động quản lý để đạt hiệu quả kinh tế — xã hội cao nhất. Với hai chức năng đó, nếu xét trong quan hệ với kế hoạch thì dự báo bao gồm hai loại: Dự báo trước kế hoạch và dự báo sau kế hoạch. Dự báo trước kế hoạch là tiền để khoa học đảm bảo tính khả thi của kế hoạch, còn dự báo sau kế hoạch giúp cho quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất.
Vai trò của dự báo Dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý. Theo nghĩa chung nhất, quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có chủ đích vào đối tượng quản lý bằng các hệ thống biện pháp kinh tế, xã hội, các biện pháp hành chính v. nhằm tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển sản xuất, tiến bộ xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, công tác dự báo là vô cùng quan trọng bởi lẽ có cung cấp các thông tin cần thiết nhằm phát hiện và bố trí sử dụng các nguồn lực trong tương lai một cách có căn cứ thực tế.
Với những thông tin mà dự báo đưa ra cho phép các nhà hoạch định chính sách có những quyết định về đầu tư, các quyết định về sản xuất, về tiết kiệm và tiêu dùng, các chính sách tài chính, chính sách kinh tế vĩ mô. Dự báo không chỉ tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, cho việc xây dựng chiến lược phát triển, cho các quy hoạch tổng thể mà còn cho phép xem xét khả năng thực hiện kế hoạch và hiệu chỉnh kế hoạch. Mối quan hệ giữa dự báo và kế hoạch hoá được biểu thị qua sơ đồ sau đây: Sơ đồ 1: Mối Quan Hệ Giữa Dự Báo Với Công Tác Lập Kế Hoạch Và Ra Quyết Định Quản Lý Mục tiêu của > quản lý Những thuận lợi về nguồn lực 3 4 | Ỷ 4 ế Các mục tiêu, mục Dự báo Lập kể hoạch FT) ⁄ đích và các quyết x A A dinh | Sự phân bố Ỷ nguồn lực và các Các hạn :| »ị Sự thực hiện và các chính sách điều chỉnh Nguồn: Giáo trình dự báo phát triển kinh tế — xã hội Trong quản lý quy mô, dự báo là hoạt động gắn liền với công tác hoạch định và chỉ đạo thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không thể không tổ chức thực hiện tốt công tác dự báo nếu họ muốn đứng vững trong kinh doanh.
Các phương pháp dự báo 2. Phương pháp mô hình hôi quy Phương pháp mô hình hồi quy dự báo là phương pháp giả định rằng các dạng thức trong quá khứ sẽ còn tiếp tục trong tương lai. Để có thể lựa chọn mô hình hồi quy nào tốt nhất, ở đây chúng tôi thực hiện theo 2 phương pháp như sau: - Xây dựng mô hình hồi quy không làm trơn chuỗi thời gian tức xây dựng mô hình hồi quy thông thường. Để xác định đường cong xu hướng nào thích hợp, ta sẽ khảo sát vẽ đồ thị biến phụ thuộc theo thời gian và nhận dạng xem xu hướng là tuyến tính, bậc hai hay lũy thừa, hay có dạng thức nào khác.
Sau đó ta xây dựng mô hình hồi qui thích hợp. Một số dạng phương trình xu hướng: (A) Đường thẳng: Y:= Bi + Bo*t + ur (B) Bậc hai: Y:= Bi + Bo*t + Bs*+ ur (C) Log - tuyến tinh: Y¡= Bì + B2*In(t) + ur (D) Tuyến tính — log: Ln(Y,) = Bi + Bo*t + ur; Yr >0 (E) Log — hai lần: Ln(Y,) = Bi + Bo*In(t) + ur; Yr >0 Trong đó : Y: là biến phụ thuộc t là biến độc lập Bi, B2, Bs là hệ số hồi quy u: là số hạng sai số không quan sát được. - Xây dựng mô hình hồi quy thông qua việc làm trơn chuỗi thời gian. Dé làm trơn chuỗi thời gian ta có thể xây dựng trung bình số học của các mức cuối cùng của chuỗi thời gian và qua đó gây ra “một hiệu ứng lọc”.
Điều này sẽ loại trừ tính không đồng đều các biến động ngẫu nhiên trong quá trình của một dãy thời gian. Giá tri trung bình trượt được tính như sau: Yi = I/m (Kit Xe + Xc¿ +. + Xcm+i) với t=l—n Trong đó : X là giá trị của chuỗi gốc Y, 1a chuỗi mới m là khoảng cách trung bình trượt Ở đây, chúng ta sẽ tính các giá trị trung bình trượt với khoảng cách trung bình trượt m=3 nên ta có: Xu = (Xt + Xe1+ X2) /3 Mức độ trơn tùy thuộc vào độ lớn của m, m càng lớn thi chuỗi kết qua thu được càng trơn. Sau đó ta sử dung giá trị y: để xây dựng mô hình hồi quy.
— Kiểm định mô hình hồi quy: Kiểm định các hệ số hồi qui a, b theo phương pháp p-value như sau: Bước I:ĐặtHo a= ao Hi azao và Ho b=bo Hi b#bo Bước 2: Trị thống kê kiểm định là t-ratio (cosnt) = (4 — ao) / Sa và t-ratio(t) cũng tính tương tự. Theo giả thiết Ho, giá trị phân phối t với n-2 bậc tự do. Bước 3: Tinh p-value = 2P(t > t-ratio). Bước 4: Bác bỏ Ho nếu p-value nhỏ hơn mức ý nghĩa nào đó.
— Kiểm định trị thống kê đo lường độ thích hợp của mô hình là R”. R?