Chương 1 : Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu, tổng quan về phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Trong chương này, tác giả tóm tắt các lý thuyết nền tảng về kiệt quệ tài chính, cấu trúc vốn tối ưu, dấu hiệu nhận biết kiệt quệ tài chính và các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa xác suất lâm vào kiệt quệ tài chính/phá sản và các yếu tố khi lựa chọn cấu trúc vốn Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, giải thích việc lựa chọn các biến, trình bày kỹ thuật ước lượng được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận. Chương này trình bày kết quả nghiên cứu, đưa ra các thảo luận. Chương 5: Kết luận.
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trình bày kết luận về mối quan hệ giữa xác suất lâm vào kiệt quệ tài chính và các thành phần trong cấu trúc vốn tối ưu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Kiệt quệ tài chính Kiệt quệ tài chính xảy ra khi không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa đến phá sản. Đôi khi nó chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối.
Như chúng ta thấy, kiệt quệ tài chính rất tốn kém. Các nhà đầu tư biết rằng các doanh nghiệp có vay nợ có thể sẽ rơi vào tình trạng kiệt quê tài chính và họ rất lo ngại về điều này. Lo ngại này được phản ánh trong giá trị thị trường hiện tại của chứng khoán của các doanh nghiệp có vay nợ. Giá trị của doanh nghiệp có thể được phân thành ba phần: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị nếu được tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần+ PV( tấm chắn thuế)-PV(chi phí kiệt quệ tài chính) Như vậy giá trị doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với chi phí kiệt quệ tài chính.
Chi phí kiệt quệ tài chính tuỳ thuộc vào xác suất kiệt quệ và độ lớn của chi phí phải gánh chịu nếu kiệt quệ tài chính xảy ra.2 Dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp đang rơi vào kiệt quệ tài chính: Với môi trường kinh doanh quốc tế bất ổn như ngày nay, các nhà đầu tư muốn tìm những thước đo và chỉ số để phân loại các công ty có tình hình tài chính khỏe mạnh hay đang rơi vào kiệt quệ tài chính, chính bởi điều này đã làm các nhà làm luật nhận biết rằng cần phải soạn thảo luật phá sản và các nhà nghiên cứu kinh tế đưa ra những mô hình để đánh giá tình hình sức khoẻ của công ty.1 Phân tích các chỉ số tài chính Wruck (1990) định nghĩa các công ty kiệt quệ tài chính là những công ty đang đối mặt với thành quả về tài chính giảm, đặc biệt là chỉ số ROA hoặc ROE âm, đây là kết quả của cuộc khủng hoảng tài chính và do năng lực quản lý nội bộ kém. Theo Bursa Malaysia (2001) định nghĩa các công ty kiệt quệ tài chính là những công ty có điều kiện tài chính không lợi. Phân loại của Bursa dựa trên bốn tiêu chí chủ yếu trong đó có chỉ tiêu vốn chủ sở hữu âm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Haniffa và Cooke (2002) lại nhấn mạnh tầm quan trọng về khả năng sinh lợi của công ty và tỷ số đòn bẩy cao là những dấu hiệu để đánh giá công ty đang rơi vào kiệt quệ tài chính.
Nghiên cứu của Parker et al. (2002) chỉ ra rằng công ty có doanh số đang sụt giảm thì gần như phải đối mặt với khó khăn về tài chính trong tương lai. Họ tranh luận rằng, doanh số sụt giảm có thể dẫn tới việc thanh toán các khoản nợ gặp khó khăn và cuối cùng có thể đẩy công ty đi tới kiệt quệ tài chính. Trong mô hình chỉ số z-score của Altman (1968) kết luận rằng chỉ số ROA có mối quan hệ mật thiết với các chỉ số khác khi xác định tình trạng kiệt quệ tài chính của công ty.
Beaver (1967) kết luận rằng chỉ số tiền so với tổng nợ là chỉ số xác định kiệt quệ tài chính tốt nhất. Dun và Bradstreet-D&B tiến hành nghiên cứu các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Mỹ và thấy rằng có một số lý do mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính như: lãi suất tăng cao, mức độ cạnh tranh kinh doanh trên toàn thế giới gia tăng, tỷ lệ đòn bẩy tăng cao, quy định của luật về dịch vụ tài chính lỏng lẻo. Các nghiên cứu về tình trạng lâm vào kiệt quệ tài chính và phá sản ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên các thị trường Mỹ, Anh, Canada và Úc (Star,1990) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập, doanh nghiệp tư nhân dòng tiền mặt thường thấp, và thiếu quy trình kiểm soát hiệu quả làm cho doanh nghiệp trở nên nhạy cảm với kiệt quệ tài chính hơn là các doanh nghiệp lớn hơn, tồn tại lâu đời, và ổn định trên thị trường. Altman (1968) chỉ ra rằng độ tuổi của công ty cũng là một nhân tố quan trọng khi xem xét khả năng sinh lợi của công ty qua thời gian.
Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng lãi suất tăng cao, lợi nhuận thấp, và tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao sẽ dễ dẫn doanh nghiệp lâm vào kiệt quệ tài chính. Tóm lại dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp đang rơi vào kiệt quệ tài chính dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm trên bao gồm: Chỉ số ROA hoặc ROE âm (Wruck,1990); Vốn chủ sở hữu âm (Bursa Malaysia, 2001); Tỷ số khả năng sinh lợi giảm (Haniffa và Cooke, 2002); TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao (Haniffa và Cooke, 2002); Doanh số sụt giảm (Parker et al., 2002); Chỉ số tiền/tổng nợ sụt giảm (Beaver, 1967); 2.2 Phân tích sự thay đổi và ổn định các khoản mục trên báo cáo tài chính Thay vì thực hiện phân tích xu hướng các chỉ số tài chính của công ty, một phương pháp tương tự và ít tốn kém chi phí đó là quan sát định kỳ xem các khoản mục (trên báo cáo tài chính của công ty thay đổi như thế nào qua thời gian. Phân tích sâu hơn vào sự thay đổi các khoản mục của các chỉ số tài chính qua thời gian. Những công ty có tình hình hoạt động và tài chính khó khăn có thể được nhận diện thông qua phân tích định kỳ sự thay đổi của các khoản mục trên báo cáo tài chính của công ty đó (Polesie,1991).
Theo Polesie (1999), khi những điều kiện của công ty thay đổi, chúng ta sẽ thấy rõ hơn các Giám đốc công ty hy vọng và không hy vọng vào đâu; khả năng tồn tại của công ty lúc đó phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực sẵn có của nó. Trong nghiên cứu của Polesie, Polesie quan sát 18 công ty trên thị trường Scadinavian thay đổi thế nào qua năm năm. Polesie thiết kế một danh mục xem xét các nguồn lực hoạt động và tài chính của các công ty, trong đó thể hiện các khoản mục trên báo cáo tài chính theo quý (gọi là mô hình theo quý). Mô hình theo quý của công ty được thực hiện hàng năm, trong đó các khoản mục trên báo cáo tài chính được phân tích cụ thể, chi tiết.
Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi mất nhiều thời gian và thông tin thật chi tiết, rõ ràng, và cụ thể như vậy mới hiểu sâu hơn về các thay đổi trên báo cáo tài chính của công ty, ngược lại thì việc sử dụng phân tích đánh giá tương đối vẫn ưu tiên được sử dụng hơn. Mặc dù hạn chế như vậy, nhưng rõ ràng mô hình quý đưa đến bức tranh tổng thể chi tiết và (rõ ràng hơn về tình hình hoạt động và tài chính của công ty.3 Nghiên cứu thực nghiệm về dự báo kiệt quệ tài chính Việc dự báo khả năng kiệt quệ tài chính doanh nghiệp đã được nghiên cứu rất nhiều ở các nước phát triển. Sự đa dạng của các mô hình đã được phát triển trong các học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 thuyết mang tính học thuật sử dụng kỹ thuật như Mô hình xác suất tuyến tính; Mô hình Logistic; Mô hình Probit; Mô hình phân tích phân biệt (MDA). Mặc dầu các mô hình rất đa dạng, nhưng cộng đồng kinh tế và các nhà nghiên cứu thường phụ thuộc vào 2 mô hình chính là: mô hình Zscore của Atlman (1968) sử dụng kỹ thuật phân tích phân biệt và mô hình Oscore của Ohlson (1980) sử dụng kỹ thuật phân tích Logistic.1 Dự đoán xác xuất kiệt quệ tài chính theo mô hình Zscore 2.1 Mô hình Atlman 1968 Atlman sử dụng kỹ thuật phân tích phân biệt trên cơ sở số liệu của 66 doanh nghiệp tại Mỹ.
66 doanh nghiệp này được phân thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 33 doanh nghiệp. Nhóm 1 gồm các doanh nghiệp bị kiệt quệ tài chính từ năm 1946 đến năm 1965. Nhóm 2 gồm các doanh nghiệp không bị kiệt quệ tài chính và vẫn hoạt động bình thường đến năm 1966. Từ số liệu của bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hiệu quả kinh doanh, 22 chỉ số tài chính được tính toán và phân thành 5 nhóm: thanh khoản, lợi nhuận, đòn bẩy, khả năng thanh toán và chỉ số hoạt động.
Trong danh mục 22 chỉ số tài chính, có 5 chỉ số được lựa chọn để sử dụng vào mô hình dự đoán khả năng kiệt quệ tài chính dựa vào 4 tiêu chí: (1) quan sát ý nghĩa thống kê của phương trình nhiều biến; (2) đánh giá mức độ tương quan giữa các biến liên quan; (3) quan sát khả năng dự đoán chính xác của mô hình; (4) phán xét của chuyên gia phân tích. Và Altman thu được hàm phân biệt như sau: Z = 0.999 X5 Trong đó: X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản X2 = Lợi nhuận chưa phân phối/ Tổng tài sản X3 = Lợi nhuận trước thuế và lãi/ Tổng tài sản X4 = GTTT của vốn chủ sở hữu/giá trị hạch toán của tổng nợ X5 = Hệ số doanh thu/ Tổng tài sản Dựa vào kết quả tính toán giá trị của chỉ số Z, Altman phân chia các doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nghiệp thành 3 nhóm như sau: Nếu Z>2.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản.99: Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh bảo, có thể có nguy cơ kiệt quệ tài chính.81: Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, có nguy cơ phá phá sản.