Chương 1 – Giới thiệu. Trong chương này tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, sơ lược về phương pháp nghiên cứu trong luận văn. Chương 2 – Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tác giả trình bày các nghiên cứu trước đây liên quan đến khái niệm kiệt quệ tài chính, các nghiên cứu trước đây liên quan đến 3 nhóm biến nghiên cứu dùng để dự báo kiệt quệ tài chính.
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày cách thức thu thập dữ liệu, cách thức tính toán các biến số cũng như kỳ vọng về dấu của biến, cùng với phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày kết quả nghiên cứu đạt được và diễn giải kết quả nghiên cứu trong tình hình thực tế tại Việt Nam.
Chương 5 – Kết luận. Trong chương này tác giả trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu và hạn chế của đề tài nghiên cứu này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Các nghiên cứu liên quan đến khái niệm kiệt quệ tài chính Có sự không thống nhất trong khái niệm về kiệt quệ tài chính trong các nghiên cứu trước đây.
Điều này đã gây khó khăn cho các nghiên cứu liên quan đến kiệt quệ tài chính, nhất là trong nghiên cứu này khi biến kiệt quệ tài chính lại là một biến rất quan trọng. Chính vì vậy, trong phần này, tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu liên quan đến khái niệm kiệt quệ tài chính để tạo cơ sở cho tác giả tìm ra một khái niệm phù hợp và sử dụng chúng trong việc xác định biến kiệt quệ tài chính mà chỉ ra công ty có rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay không ở trong nghiên cứu này. Hầu hết các mô hình dự báo vỡ nợ trước đây cho các công ty niêm yết đã sử dụng một định nghĩa dựa trên một sự kiện chuẩn đó là phụ thuộc vào kết quả pháp lý cuối cùng. Có những sự kiện pháp lý có thể xác định được ngày tháng một cách chính xác và khách quan.
Tuy nhiên, việc định nghĩa vỡ nợ mang tính pháp lý này vẫn gặp phải một số vấn đề nhất định. Chẳng hạn như, việc mất khả năng thanh toán có thể là một quá trình pháp lý kéo dài và thời điểm phá sản mang tính pháp lý không thể đại diện cho thời điểm phá sản thực tế. Ví dụ như trong một nghiên cứu cho các công ty tại Anh thì nhận thấy khoảng chênh lệch thời gian đáng kể (tính bình quân, có thể lên đến 3 năm hoặc 1,17 năm) giữa thời điểm một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính (có thể dẫn đến phá sản) và thời điểm phá sản mang tính pháp lý. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Theodossiou (1993) khi cho rằng các doanh nghiệp trong mẫu quan sát ở Hoa Kỳ có khoảng thời gian chênh lệch giữa hai thời điểm này là vào khoảng hai năm.
Ngoài ra, những thay đổi trong luật phá sản tại các quốc gia khác nhau đã tạo ra một điều mà được gọi là "văn hóa giải cứu", mà chính điều này đã làm thay đổi bản chất và thời gian của quá trình phá sản mang tính pháp lý. Các nghiên cứu trước đây nhận thấy kiệt quệ tài chính có thể rất tốn kém cho các chủ nợ và họ muốn giảm thiểu/ ngăn chặn các chi phí này với những hành động kịp thời. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Chính vì vậy rất cần thiết để phát triển một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính đáng tin cậy hơn là một mô hình dự báo vỡ nợ đáng tin cậy. Wruck (1990) xác định kiệt quệ tài chính là tình trạng mà dòng tiền của một công ty không đủ để trang trải các nghĩa vụ tài chính hiện tại của họ.
Trong khi đó, Asquith và cộng sự (1994) lại xác định kiệt quệ tài chính dựa trên hệ số khả năng thanh toán lãi vay. Trên thực tế, một công ty được phân loại là kiệt quệ tài chính nếu thu nhập trước lãi vay, thuế, và khấu hao (EBITDA) nhỏ hơn chi phí tài chính (hay chi phí lãi vay) trong hai năm liên tiếp, hoặc trong bất kỳ năm nào có EBITDA nhỏ hơn 80% chi phí lãi vay. Việc xác định này là phù hợp với nghiên cứu của Andrade và Kaplan (1998) khi xác định tình trạng kiệt quệ tài chính của một công ty tại một năm bất kỳ có EBITDA thấp hơn chi phí tài chính. Whitaker (1999) cho rằng tác động của kiệt quệ tài chính có thể dẫn đến sự mất mát trong giá trị doanh nghiệp trước khi xảy ra phá sản.
Chính vì vậy, ngoài việc xác định kiệt quệ tài chính bằng việc xem xét khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn bằng dòng tiền tạo ra của công ty, thì còn xác định kiệt quệ tài chính bằng cách xem xét giá trị thị trường của công ty tại một thời điểm bất kỳ, tức là xem xét tại một thời điểm mà có tỷ lệ gia tăng trong giá trị thị trường âm. Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2007) xác định kiệt quệ tài chính xảy ra khi công ty không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Hơn thế nữa, họ cũng đề cập rằng các nhà đầu tư biết rằng các doanh nghiệp vay nợ có khả năng rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính và lo ngại về điều này và phản ánh điều đó vào trong giá trị thị trường của cổ phiếu của các doanh nghiệp này. Điều này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây khi cho rằng giá trị thị trường của cổ phiếu đã phản ánh các thông tin trên báo cáo tài chính cũng như các thông tin khác bên ngoài báo cáo tài chính.
Từ những nghiên cứu như được đề cập ở bên trên đã chỉ ra 2 cách để xác định tình trạng kiệt quệ tài chính mà sử dụng một cách rộng rãi, đó chính là dựa trên khả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 năng đáp ứng nghĩa vụ nợ và sự gia tăng trong giá trị thị trường. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng 2 cách thức xác định này trong việc xác định một công ty có rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay không. Các nghiên cứu về các biến dự đoán kiệt quệ tài chính Các nghiên cứu sử dụng nhóm biến kế toán Các nghiên cứu dùng dự đoán kiệt quệ tài chính đã được thực hiện từ rất lâu vào khoảng những năm 1960. Tuy nhiên, các nghiên cứu ấy chỉ tập trung vào việc sử dụng nhóm biến kế toán, điển hình như nghiên cứu của Beaver (1966) quan sát trong giai đoạn 1954-1964 và tập trung hơn vào 6 tỷ số từ 30 tỷ số xem xét vào lúc ban đầu: tỷ số dòng tiền trên tổng nợ, tỷ số thu nhập ròng trên tổng tài sản, tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ số vốn luân chuyển trên tổng tài sản, tỷ số tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn, tỷ số tài sản ngắn hạn trên chi tiêu hoạt động hàng ngày.
Trong nghiên cứu đó đã mở rộng khái niệm vỡ nợ là khi công ty không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn. Vì vậy, mẫu quan sát của tác giả bao gồm các công ty phá sản, các công ty không trả được nợ, các công ty có tài khoản ngân hàng bị thấu chi cũng như các công ty bỏ qua các khoản chi trả cổ tức ưu đãi. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra một khả năng dự báo tốt dựa trên nhóm biến kế toán. Tác giả đã chỉ ra rằng chỉ có 10% số quan sát bị phân loại sai theo tỷ số dòng tiền trên tổng tài sản trong mô hình dự báo 1 năm trước khi phá sản, 13% đối với tỷ số dòng tiền trên tổng nợ, 15% đối với thu nhập ròng trên tổng nợ.
Trong mô hình dự báo 5 năm trước khi phá sản, tỷ lệ quan sát bị phân loại sai là 28% đối với tỷ số dòng tiền trên tổng tài sản, 22% đối với tỷ số dòng tiền trên tổng nợ, 32% đối với thu nhập ròng trên tổng nợ. Mặc dù nghiên cứu này đã đưa ra các kết quả dự báo tốt nhưng kỹ thuật nghiên cứu trên các tỷ số đơn lẻ vẫn gặp nhiều hạn chế do có thể đưa ra các kết quả không thống nhất với nhau giữa các tỷ số. Ohlson (1980) cũng sử dụng các biến kế toán cho bộ mẫu quan sát bao gồm 105 công ty phá sản và 2058 công ty không bị phá sản trong giai đoạn quan sát 1970-1976. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các biến quy mô, tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản, tỷ số thu nhập ròng trên tổng tài sản, tỷ số dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên tổng nợ, tỷ số vốn luân chuyển trên tổng tài sản, tỷ số nợ ngắn hạn trên tài sản ngắn hạn có khả năng được sử dụng để dự báo tốt.
Khả năng dự báo của mô hình chính xác lên đến lần lượt là 96.55% cho mô hình dự báo 1 năm và 2 năm trước khi xảy ra phá sản. Các nghiên cứu sử dụng nhóm biến thị trường Nhiều nghiên cứu trước đây đã kiểm định tính hữu dụng của nhóm biến thị trường trong việc dự đoán kiệt quệ tài chính. Hơn thế nữa, có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cố gắng chứng tỏ sự vượt trội của các mô hình dựa trên nhóm biến thị trường so với các mô hình dựa trên nhóm biến kế toán và ngược lại. Tuy nhiên, việc so sánh thành quả đạt được của các mô hình này vẫn có nhiều tranh luận khác nhau.
Agarwal và Taffler (2008) thực hiện so sánh thành quả đạt được giữa các mô hình dự báo kiệt quệ tài chính dựa trên nhóm biến thị trường và dựa trên nhóm biến kế toán, và nhận thấy rằng các mô hình dựa trên nhóm biến kế toán không thua kém gì và gần như không có sự khác biệt so với các mô hình dựa trên nhóm biến thị trường. Điều này hàm ý rằng cả hai nhóm biến đều chứa đựng những thông tin hữu ích về khả năng dự báo kiệt quệ tài chính của các công ty. Tuy nhiên, Hillegeist và cộng sự (2004) lại chỉ ra các kết quả trái ngược khi cho rằng các mô hình dựa trên nhóm biến thị trường cung cấp nhiều thông tin đáng kể hơn về khả năng dự báo kiệt quệ tài chính so với các mô hình dựa trên nhóm biến kế toán.