Chương 1: Giới thiệu đề tài ngiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày lý do nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; ý nghĩa của bài nghiên cứu; tổng quan về phương pháp nghiên cứ và bố cục của bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Trong chương này tác giả tóm tắt các lý thuyết nền tảng về Kiệt quệ tài chính, cấu trúc vốn trong từng thời kỳ của nền kinh tế, dấu hiệu nhận biết kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp và lịch sử về quá trình nghiên cứu mối liên hệ giữa khả năng dự báo lâm vào kiệt quệ tài chính và sự lựa chọn cấu trúc vốn cho doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, các thu thập dữ liệu, định nghĩa các biến, giải thích cách lựa chọn các biến và trình bày mô hình ước lượng được sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Phân tích đánh giá khả năng lâm vào kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán bằng mô hình Logistic. Trong chương này tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 giả trình bày kết quả nghiên cứu và đưa các các phân tích đánh giá về kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. Trên các kết quả nghiên cứu đã phân tích ở trên, trong chương này tác giả rút ra kết luận về mối liên hệ giữa khả năng lâm vào kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp và sự lựa chọn cấu trúc vốn trong từng thời kỳ của nền kinh tế. Và tác giải nêu lên những giới hạn trong bài nghiên cứu và các hướng mở rộng nghiên cứu trong tương lai ở Việt Nam. CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.
Lý thuyết về kiệt quệ tài chính Theo sách Tài chính doanh nghiệp, Kiệt quệ tài chính (Financial distress) xảy ra khi không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hay đáp ứng một cách khó khăn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa doanh nghiệp đến phá sản. Đôi khi kiệt quệ tài chính chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối. Như chúng ta sẽ thấy kiệt quệ tài chính rất tốn kém.
Các NĐT biết rằng các doanh nghiệp có vay nợ có thể sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, và họ rất quan tâm về điều này. Mối quan tâm này được phản ánh trong giá trị thị trường hiện tại của chứng khoán của các doanh nghiệm có vay nợ. Như vậy, giá trị doanh nghiệp có thể được phân thành các phần như sau: Giá trị Giá trị nếu được PV PV doanh = tài trợ hoàn toàn + (tấm chắn - (chi phí của kiệt ngiệp bằng vốn cổ thuế) quệ tài chính) phần Như vậy, Giá trị doanh nghiệp tỷ lệ nghịch với chi phí khi xảy ra kiệt quệ tài chính, chi phí kiệt quệ tài chính tùy vào sác xuất kiệt quệ và độ lớn của chi phí phải gánh chịu nếu kiệt quệ tài chính xảy ra. Dấu hiệu nhận biết Doanh nghiệp đang rơi vào kiệt quệ tài chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Với môi trường kinh doanh trong thời đại kinh tế toàn cầu hóa như ngày nay, các nhà đầu tư muốn tìm kiếm một công cụ hữu ích như là thước đo để phân loại các công ty có tình hình tài chính khỏe mạnh hay đang có nguy cơ lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính trong tương lai, chính bởi điều này mà các nhà làm luật phải soạn thảo ra luật phá sản và các nghiên cứu khoa học đưa ra những mô hình dự báo tình hình tài chính của công ty, giúp các nhà đầu tư hay các nhà quản trị có được một công cụ dự báo tốt nhất.
Phân tích các chỉ số tài chính Wruck (1990) định nghĩa các công ty kiệt quệ tài chính là những công ty đang phải đối mặt với kết quả về tài chính giảm sút, đặc biệt là chỉ số ROA hoặc ROE âm, đây là kết quả của các tác động từ khủng hoảng tài chính và từ năng lực quả lý nội bộ yếu kém. Theo Bursa Malaysia (2001) định nghĩa các doanh nghiệp kiệt quệ tài chính là những doanh nghiệp có điều kiện tài chính không thuận lợi. Phân loại của Bursa có bốn tiêu chí chính trong có một tiêu chí vốn chủ sở hữu bị âm. Haniffa và Cooke (2002) lại nhấn mạnh tầm quan trọng về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và tỷ số đòn bẩy cao là những dấu hiệu để đánh giá công ty đang rơi xảy ra tình trạng tài chính kiệt quệ.
Nghiên cứu của Parker et al (2002) chỉ ra rằng các công ty có doanh số đang sụt giảm thì gần như phải đối mặt với khó khăn về tài chính trong tương lai. Họ tranh luận rằng, doanh số sụt giảm có thể dẫn đến tình trạng sụt giảm lợi nhuận sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ và cuối cùng có thể đẩy công ty đi vào tình trạng tài chính kiệt quệ. Trong mô hình chỉ số Z-core của Altman (1968) kết luận rằng chỉ số ROA có mối quan hệ mật thiết với các chỉ số khác khi xác định kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp. Bearver (1967) kết luận rằng chỉ số tiền và các khoản tương đương tiền so với tổng nợ là chỉ số xác định tình trạng kiệt quệ tài chính tốt nhất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Dun và Bradstreet-D&B tiến hành nghiên cứu các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Mỹ và thấy rằng có một số lý do mà sẽ đưa doanh nghiệp lâm vào kiệt quệ tài chính như: lãi suất tăng cao, mức độ cạnh tranh kinh doanh trên toàn thế giới gia tăng, tỷ lệ đoàn bẩy của công ty tăng cao, quy định của luật pháp về quản lý tài chính lỏng lẽo. Các nghiên cứu về xác suất lâm vào kiệt quệ tài chính và phá sản của các doanh ngiệp vừa và nhỏ trên các thị trường Mỹ, Anh, Canada, Úc (Star, 1990) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập, doanh nghiệp tư nhân có dòng tiền mặt thường thấp, và thiếu quy trình kiểm soát chặt chẽ làm cho doanh nghiệp trở nên nhạy cảm với tình trạng kiệt quệ tài chính hơn là các doanh nghiệp lớn đã tồn tại lại lâu đời và ổn định trên thị trường. Altman (1968) chỉ ra rằng độ tuổi của công ty cũng là một nhân tố quan trọng khi xem xét đến khả năng sinh lợi của công ty qua thời gian. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng khi lãi suất tăng cao, lợi nhuận thấp và tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao sẽ dễ đưa doanh ngiệp lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính và có thể đi đến phá sản.
Tóm lại dấu hiệu nhận biết doanh nghiệp đang lâm vào kiệt quệ tài chính dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm trên bao gồm: Chỉ số ROA hoặc ROE âm (Wruck, 1990); Vốn chủ sở hữu âm (Bursa Malaysia, 2001); Tỷ số khả năng sinh lợi giảm (Haniffa và Cooke, 2002); Tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao (Haniffa và Cooke, 2002); Doanh số sụt giảm (Parker et al., 2002); Chỉ số tiền / tổng nợ sụt giảm (Bearver, 1967); 2. Phân tích sự thay đổi và ổn định các khoản mục trên báo cáo tài chính Thay vì thực hiện phân tích xu hướng và các chỉ số tài chính của công ty, một phương pháp tương tự và ít tốn kém chi phí đó là quan sát định kỳ xem các khoản mục trên báo cáo tài chính của công ty từng kỳ theo thời gian. Phân tích sâu hơn vào sự thay đổi các khoản mục của các tỷ số tài chính theo thời gian. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Những công ty mà đang có tình hình hoạt động và tài chính khó khăn có thể được nhận diện qua phân tích định kỳ sự thay đổi của các khoản mục trên báo cáo tài chính của công ty đó (Polesie, 1999).
Theo Polesie (1999), khi những điều kiện của công ty thay đổi, chúng ta sẽ thấy rõ hơn các Giám đốc công ty hy vọng và không hy vọng vào đâu; khả năng tồn tại của công ty lúc đó phụ thuộc rất lớn vào các nguồn lực sẵn có của nó. Trong nghiên cứu của Polesie đã quan sát 18 công ty trên thị trường Scadinavian thay đổi thế nào qua năm năm. Polesie đã thiết kế một danh mục xem xét các nguồn lực hoạt động và tài chính của các công ty, trong đó thể hiện các khoản mục trên báo cáo tài chính theo từng quý (gọi là mô hình quý). Mô hình theo quý của công ty được thực hiện hàng năm, trong đó các khoản mục trên báo cáo tài chính được phân tích cụ thể, chi tiết.
Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi mất nhiều thời gian và thông tin thật chi tiết, rõ ràng và cụ thể như vậy mới hiểu sâu hơn về các thay đổi trên báo cáo tài chính của công ty, ngược lại thì việc sử dụng phân tích đánh giá tương đối vẫn ưu tiên được sử dụng hơn. Mặc dù hạn chế như vậy, nhưng rõ ràng mô hình quý đưa đến bức tranh tổng thể chi tiết và rõ ràng hơn về tình hình hoạt động và tài chính của công ty. Nghiên cứu thực ngiệm trước đây về dự báo kiệt quệ tài chính 2. Các nghiên cứu sử dụng biến tài chính.
Các nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ trước, đã sử dụng thông tin từ báo cáo tài chính để dự báo kiệt quệ, phá sản của doanh nghiệp. Beaver (1966, 1968), Altman (1968, 1977), Ohlson (1980) được xem là những tác giả tiên phong trong việc sử dụng các tỷ số tài chính để dự báo kiệt quệ tài chính, phá sản trong các nghiên cứu thực nghiệm. Cụ thể như sau: Beaver (1966) là người đặt nền móng cho việc xây dựng một mô hình thống kê phân tích các tỷ số tài chính đơn lẻ để dự báo phá sản. Trong khi hầu hết các nghiên cứu vào thời điểm đó chỉ xem xét các công ty vỡ nợ là các công ty phá sản, Beaver đã mở rộng định nghĩa về sự vỡ nợ trong nghiên cứu của mình.
Theo ông, vỡ nợ được định nghĩa là sự không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ đến hạn của một công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Bằng cách sử dụng phân tích biệt số đơn biến, ông tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên 79 doanh nghiệp kinh doanh bị vỡ nợ và một số lượng tương ứng các doanh nghiệp kinh doanh thành công trong giai doạn từ 1954-1964. Beaver phân loại 30 chỉ số thành 6 nhóm, sau đó chọn 1 chỉ số từ mỗi nhóm có sai số phần trăm nhỏ nhất để phân tích và tập trung kiểm định vào 6 tỷ số sau: tỷ số dòng tiền trên tổng nợ. Tỷ số thu nhập ròng trên tổng tài sản.