CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ VẤN ĐỀ DỰ BÁO GIÁ CỔ PHIẾU 1. Khái quát về thị trường chứng khoán và các phương pháp dự báo giá cổ phiếu trên thế giới 1. Sơ lược về thị trường chứng khoán 1. Sơ lược lịch sử ra đời chứng khoán nước ngoài Vào giữa thế kỷ 13, các chủ ngân hàng ở Venice bắt đầu kinh doanh cổ phiếu của chính phủ [8].
Lần lượt các ngân hàng khác ở Ý cũng kinh doanh chứng khoán vào những năm của thế kỷ 14, cũng là những người đầu tiên phát hành cổ phiếu. Các công ty Anh và các nước thấp hơn tiếp nối vào thế kỷ 16. Ngay sau đó, tại các thành phố của Ý cũng sản xuất trái phiếu chính phủ có thể chuyển nhượng đầu tiên, họ đã không phát triển thành phần khác cần thiết để tạo ra một thị trường vốn hoàn chỉnh: thị trường chứng khoán. Trong những năm 1600 đầu những Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) đã trở thành công ty đầu tiên trong lịch sử đối với vấn đề trái phiếu và cổ phiếu của chứng khoán ra công chúng nói chung.
Vào thời điểm đó, khi mà chứng khoán mới ra đời, chưa có máy móc, giao dịch được thực hiện thủ công, nhiều nhà phân tích được thuê để theo dõi hoạt động giao dịch đồng thời đưa ra giá cổ phiếu tới công chúng. Tuy vậy, đến cuối thế kỷ 20, mọi chuyện đều đã thay đổi tiêu biểu vào năm 1971, NASDAQ là sở giao dịch đầu tiên sử dụng giao dịch điện tử trên thế giới. Thay thế người môi giới xác định giá cổ phiếu trong mỗi lần người mua và người bán giao dịch, NASDAQ đã đưa ra một bảng điện tử lớn niêm yết giá và sự biến động theo thời gian thực. Sau đó, nhiều sàn giao dịch lớn nhất cũng đã áp dụng 'công cụ khớp lệnh' điện tử để kết hợp người mua và người bán lại với nhau.
Giao dịch điện tử hiện nay chiếm phần lớn giao dịch ở nhiều nước phát triển. Hệ thống máy tính đã được nâng cấp tại các sàn giao dịch chứng khoán để xử lý khối lượng giao dịch lớn hơn một cách chính xác và có kiểm soát hơn. Tổng vốn hóa thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán thế giới có các bước tăng trưởng đáng kể với hơn 60 sàn giao dịch chứng khoán trong đó có 10 chỉ số được giao dịch nhiều nhất như S&P 5000, DJIA, NASDAQ của Mỹ, FTSE 100 của Anh, CAC 40 của Pháp, Hang Seng của Hồng Kông, Nikkei của Nhật Bản,. Năm 2019, Mỹ là thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới, gấp 1/5 giá trị vốn hoá của Trung Quốc chiếm 44.33% tổng vốn hóa thế giới với 30.44 nghìn tỷ USD [9].
Nhiều thị trường châu Âu chỉ chiếm từ 1-3% giá trị vốn hoá toàn cầu. Tiềm năng mới của thị trường chứng khoán thế giới nằm tại châu Á, cụ thể là các quốc gia Đông Á. Trung Quốc là thị trường chứng khoán mới nổi với 3 6,32 nghìn tỷ USD chiếm 9.21% tổng vốn hóa thế giới, trong đó giá trị thị trường chứng khoán Hong Kong (Trung Quốc) cũng đạt 50% giá trị vốn chủ sở hữu của Trung Quốc. Ngoài ra, các nước khác như Nhật Bản, Ý, Hàn, Pháp, Đức cũng chiếm giá trị đáng kể so với thị trường vốn hóa thế giới.
Các phương pháp dự báo giá cổ phiếu trên thế giới “Xu hướng giá cổ phiếu sẽ thế nào?”, “Sẽ tăng hay giảm ?” là những câu hỏi mà các nhà đầu tư chứng khoán đặt ra mỗi ngày. Chứng khoán được cho là một sản phẩm tài chính có đặc điểm là rủi ro cao, lợi nhuận cao và giao dịch linh hoạt, được nhiều nhà đầu tư ưa chuộng. Các nhà đầu tư có thể thu được lợi nhuận dồi dào bằng cách ước tính xu hướng giá cổ phiếu. Tuy nhiên, giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như như tình hình kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường, các sự kiện kinh tế và xã hội lớn.
Đã từng có một cuộc tranh luận về việc liệu thị trường có thể được dự đoán. Bản chất, dự đoán thị trường chứng khoán là hành động cố gắng xác định giá trị tương lai của cổ phiếu công ty hoặc công cụ tài chính khác được giao dịch trên sàn giao dịch. Khi thị trường chứng khoán mới ra đời, các nhà đầu tư, nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các sự kiện tin tức ảnh hưởng tới xu hướng biến động giá cổ phiếu. Họ trích xuất dữ liệu tin tức dự đoán thị trường dựa trên các các điểm đơn giản như mô hình bag-of- word, thực thể hay các cụm danh từ liên quan đến chứng khoán và công ty phát hành.
Ưu điểm của nó là dễ dàng, tin tức luôn được cập nhật tuy nhiên nó không nắm bắt các thông tin có cấu trúc nên không thể đại diện cho sự hoàn chỉnh và các sự kiện chính xác, hơn hết đây là công nghệ khai thác văn bản này không thể xem xét ngữ nghĩa và các thông tin khác trong xã hội để cải thiện hiệu suất của các mô hình dự đoán. Ngoài ra, các mô hình thống kê và kinh tế lượng cũng thường được sử dụng trong dự đoán giá cổ phiếu truyền thống, nhưng những phương pháp này không thể giải quyết môi trường năng động và phức tạp của thị trường chứng khoán. Vào những năm 1930-1950, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu và thực nghiệm tập trung vào thuộc tính chuỗi thời gian hay chính xác là xem xét biến động giá cổ phiếu trong khoảng thời gian được chọn để dự báo. Nghiên cứu này đã từng được thực nghiệm trên dữ liệu giá cổ phiếu Hoa Kỳ và phát hiện ra rằng giá cổ phiếu của Hoa Kỳ và chuỗi tài chính liên quan tuân theo mô hình bước đi ngẫu nhiên trong ngắn hạn.
Mô hình bước đi ngẫu nhiên là một quá trình ngẫu nhiên, nó là sự tăng thêm và mất đi một cá thể sau một thời điểm của quần thể nào đó, còn được gọi là quá trình sinh và chết trong sinh học nói chung, đối với chứng khoán các nhà nghiên cứu tập trung xem xét sự dịch chuyển của giá, biến động theo quy tắc nào. Tuy nhiên, vào năm 1973, Burton Malkiel đã đưa ra tác phẩm “A random walk down wall street” đã tuyên bố rằng giá cổ 4 phiếu không thể được dự báo đoán chính xác bằng cách nhìn vào lịch sử giá [10]. Malkiel lập luận, giá cổ phiếu được mô tả bằng một quá trình thống kê được gọi là “Bước đi ngẫu nhiên” có nghĩa là độ lệch của mỗi ngày so với giá là ngẫu nhiên là không thể đoán trước. Kể từ năm 1970, với tốc độ sự phát triển của công nghệ máy tính, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu sử dụng máy học để dự đoán giá cổ phiếu và biến động, giúp nhà đầu tư xác định chiến lược đầu tư để giảm rủi ro và tăng lợi nhuận.
Vào năm 1990, Benoit Mandelbrot tuyên bố lý thuyết thị trường hiệu quả lần đầu tiên được đề xuất bởi nhà toán học người Pháp Louis Bachelier trong luận án tiến sĩ “The theory of Speculation” mô tả cách thức giá cả hàng hóa và cổ phiếu thay đổi trên thị trường. Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) là giả thuyết trong kinh tế tài chính mà khẳng định rằng tài sản, giá cả phản ánh tất cả các thông tin có sẵn [10]. Các giả thuyết thị trường hiệu quả thừa nhận rằng giá cổ phiếu là một chức năng của thông tin và mong đợi hợp lý, rằng sự triển vọng của công ty phản ánh trong giá cả cổ phiếu hiện tại. Điều này có nghĩa là tất cả thông tin được biết đến công khai về một công ty bao gồm lịch sử giá của nó sẽ được phản ánh trong giá hiện tại của cổ phiếu.
Theo đó, những thay đổi trong giá cổ phiếu phản ánh việc phát hành thông tin mới, những thay đổi trên thị trường nói chung, hoặc những chuyển động ngẫu nhiên xung quanh giá trị phản ánh một phần thông tin hiện có. Vào những năm 2000-2005, bắt đầu các nhà phân tích sử dụng các phương pháp có tính cấu trúc, các mô hình tuyến tính và phi tuyến tính được sử dụng để dự báo đã mang lại độ chính xác nhất định như dự đoán của chỉ số S&P 500 là 60% và dự đoán cổ phiếu riêng lẻ có thể là trên 70% [10]. Cho đến ngày nay, có nhiều mô hình dự báo giá cổ phiếu như mô hình trung bình động tích hợp tự động hồi quy (ARIMA) là một trong những mô hình được sử dụng phổ biến trong dự báo chứng khoán hay chính là dự báo chuỗi thời gian. Khi mà AI phát triển, các phương pháp học máy (Machine learning) được sử dụng rộng rãi trong việc dự báo giá cổ phiếu như Máy vectơ hỗ trợ (SVM), một kỹ thuật mạng nơron như CNN, bộ nhớ ngắn hạn dài (LSTM), mạng noron sâu (DNN), RNN,.
Tựu chung lại, các phương pháp dự đoán được chia thành ba loại lớn có thể tích hợp với nhau. Đó là phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật (biểu đồ) và phương pháp công nghệ (Machine learning). Các phương pháp dự báo giá cổ phiếu Các nhà phân tích cơ bản quan tâm đến công ty tạo nền tảng cho chính cổ phiếu. Họ đánh giá hoạt động trong quá khứ của công ty cũng như độ tin cậy của các tài 5 khoản như tài sản nợ, tài sản có, bản ngân sách kế toán của công ty đó.
Các nhà phân tích dựa vào tỷ lệ P/E (P/E ratio = Share Price / Earnings Per Share), xem xét tổng vốn hóa thị trường tới GDP để chỉ ra giá trị tương đối của thị trường chứng khoán nói chung. Điều mà phân tích cơ bản trên thị trường chứng khoán đang cố gắng đạt được, đó là tìm ra giá trị thực của cổ phiếu, sau đó có thể so sánh với giá trị mà nó đang giao dịch trên thị trường chứng khoán và do đó tìm ra liệu cổ phiếu trên thị trường có bị định giá thấp hay không. Trái với phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản được coi là một chiến lược dài hạn. Phân tích cơ bản được các nhà quản lý sử dụng rộng rãi vì nó hợp lý, khách quan nhất và được thực hiện từ các thông tin công khai như phân tích báo cáo tài chính.
Phân tích kỹ thuật Các nhà phân tích kỹ thuật hoặc nhà lập biểu đồ không quan tâm đến bất kỳ nguyên tắc cơ bản nào của công ty. Họ tìm cách xác định giá tương lai của cổ phiếu chỉ dựa trên xu hướng của giá quá khứ đó như là một dạng phân tích chuỗi thời gian. Có các kỹ thuật được sử dụng như đường trung bình động hàm mũ (EMA). Mô hình ARIMA cũng là một kỹ thuật được sử dụng rộng rãi để phân tích thị trường chứng khoán.