CHƯƠNG 1 CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO GIÁ VÀ RỦI RO CHỨNG KHOÁN Trước hết, chúng ta ôn lại các khái niệm cơ bản bao gồm chỉ số giá chứng khoán tỷ suất sinh lời và rủi ro thị trường. Đây là cái yếu tố đầu vào cũng như đối tượng cho mô hình phân tích dự báo sẽ được trình bày ở phần sau. Dữ liệu chỉ số giá, tỷ suất sinh lời và rủi ro thị trường là các chuỗi dữ liệu theo thời gian. Điểm chung của ba chuỗi dữ liệu này là đều thể hiện tâm lý của nhà đầu tư thông qua diễn biến hành vi và hướng đi của dữ liệu.
Trong công tác phân tích dự báo có hai trường phái. Thứ nhất, trường phái cổ điển dựa vào các mô hình kinh tế lý thuyết đã được xây dựng nên bởi các học giả, từ đó ta thu thập dữ liệu thực tế xây dựng nên các mô hình theo đúng lý thuyết rồi dự báo theo nó. Thứ hai, trường phái hiện đại tập trung cải tiến công tác dự báo và tin dùng vào mô hình phân tích dự báo chuỗi thời gian. Phân tích chuỗi thời gian sẽ nghiên cứu hành vi, khuôn mẫu trong quá khứ của một biến số và sử dụng thông tin này để dự đoán những thay đổi trong tương lai.
Trong bài nghiên cứu này, tôi đi theo hướng của trường phái thứ hai tức là mô phỏng dữ liệu trong quá khứ rồi lấy đó làm cơ sở để dự phóng cho tương lai mà không quan tâm đến việc phân tách các nhân tố tác động đến chuỗi dữ liệu. Dữ liệu chuỗi thời gian đầu vào cho mô hình dự báo phải là chuỗi dừng. Chuỗi dừng sẽ cho thấy những kết quả dự báo phản ánh đặc điểm trong quá khứ hay những gì diễn ra ở quá khứ sẽ xảy ra ở hiện tại và tương lai theo đúng như kịch bản quá khứ của nó. Nhưng làm thế nào để xác định được một chuỗi thời gian là dừng? Chúng ta sẽ lần lượt kiểm định chuỗi thời gian bằng phương pháp giản đồ tương quan và phương pháp kiểm định đơn vị.
Sau khi xác định được chuỗi thời gian là chuỗi dừng, ta bắt đầu dự báo và phân tích chuỗi thời gian theo tính ngẫu nhiên của nó dựa vào những thông tin của bản thân chuỗi dữ liệu trong quá khứ. Phương pháp ARIMA và mô hình ARCH/GARCH sẽ lần 10 lượt được giới thiệu một cách cơ bản cách thức ứng dụng trong việc phân tích và dự báo một chuỗi thời gian. Ngoài ra kinh niệm ứng dụng mô hình ARIMA, ARCH/GARCH trên thế giới cho thấy mô hình đã và đang phát triển ngày càng sâu trong công tác phân tích dự báo chuỗi dữ liệu tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán.1KHÁI NIỆM CHỈ SỐ GIÁ, TỶ SUẤT SINH LỢI, RỦI RO THỊ TRƯỜNG,CHUỖI THỜI GIAN TRONG TÀI CHÍNH 1.1Chỉ số giá Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá chứng khoán bình quân hiện tại so với giá bình quân thời kỳ gốc đã chọn. Việt Nam có hai chỉ số chứng khoán cơ bản là VnIndex và Hn-Index.
Cả hai chỉ số giá chứng khoán đều được tính theo phương pháp bình quân gia quyền. Công thức tính như sau: 100 ∑Ni=1 P1i Q1i N ∑i=1 P0i Q 0i Trong đó: P1i: Giá hiện hành của cổ phiếu i Q1i: Khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu i P0i: Giá của cổ phiếu i thời kì gốc Q0i: Khối lượng của cổ phiếu i tại thời kì gốc Chỉ số giá cổ phiếu được coi là phong vũ biểu thể hiện tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán. Đây cũng là căn cứ để đánh giá hoạt động của nền kinh tế.2Suất sinh lời của thị trường Suất sinh lời của thị trường là thông tin làm căn cứ để đánh giá mức độ hấp dẫn khi đầu tư vào thị trường. Cũng giống như suất sinh lời của một cổ phiếu, suất sinh lời của thị trường được tính toán dựa vào chuỗi dữ liệu chỉ số giá.
Công thức tính tỷ suất sinh lời của thị trường: 11 Pindex,t rindex,t = log ( ) Pindex,t−1 Tỷ suất sinh lời tính theo nguyên tắc lãi kép với số ghép lãi vô hạn vì hoạt động đầu tư và tái đầu tư diễn ra liên tục nên sẽ là ít chính xác hơn nếu tính toán sinh lợi theo nguyên tắc số kỳ ghép lãi rời rạc.3Rủi ro của thị trường cổ phiếu 1.1Khái niệm về rủi ro Rủi ro có thể được hiểu đơn giản là những kết cục có thể xảy ra trong tương lai mà ta không mong đợi. Tùy từng lĩnh vực nghiên cứu, rủi ro được định nghĩa theo những cách khác nhau. Trong lĩnh vực quản trị rủi ro, người ta dùng thuật ngữ “Hiểm họa” (Hazard) để phản ánh sự kiện mà có thể gây ra một thiệt hại nào đó và thuật ngữ “Rủi ro” (Risk) để chỉ xác suất xảy ra một sự kiện nào đó. Theo cách này, rủi ro chỉ phát sinh khi có sự không chắc chắn về mất mát xảy ra.
Điều này có nghĩa là, đứng trước một quyết định hành động mà kết cục chắc chắn xảy ra mất mát thì không phải là rủi ro. Một kết cục mất mát không chắc chắn tức là điều này có thể xảy ra hoặc không, nhưng có tồn tại khả năng mất mát, gây thiệt hại cho người ra quyết định hành động. Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro là khái niệm đánh giá mức độ biến động hay bất ổn của giao dịch hay hoạt động đầu tư. Rủi ro tài chính được quan niệm là hậu quả của sự thay đổi, biến động không lường trước được của giá trị tài sản hoặc giá trị các khoản nợ đối với các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư trong quá trình hoạt động của thị trường tài chính.2Phân loại rủi ro: Có nhiều cách phân loại rủi ro, ở đây ta chia rủi ro thành 2 loại: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống.
Rủi ro hệ thống Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các chứng khoán. Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, tốc độ lạm phát thay đổi,. là những nhân tố của rủi ro hệ thống. 12 Trong rủi ro hệ thống, trước hết phải kể đến rủi ro thị trường.
Rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các nhà đầu tư đối với các hiện tượng trên thị trường. Những sự sụt giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây ra sự sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn, tạo phản ứng dây chuyền, khiến giá cả chứng khoán rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở. Tiếp đến là rủi ro lãi suất, là trường hợp giá cả chứng khoán thay đổi do lãi suất thị trường dao động thất thường. Giữa lãi suất thị trường và giá cả chứng khoán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch.
Khi lãi suất thị trường tăng, nhà đầu tư có xu hướng bán chứng khoán để lấy tiền gửi vào ngân hàng dẫn đến giá chứng khoán giảm và ngược lại. Một nhân tố rủi ro hệ thống khác là rủi ro sức mua. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát tới các khoản đầu tư. Lợi tức thực tế của chứng khoán đem lại là kết quả của lợi tức danh nghĩa sau khi khấu trừ đi lạm phát.
Rủi ro phi hệ thống Rủi ro phi hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc một nhóm tài sản, nghĩa là chỉ liên quan đến một loại chứng khoán cụ thể nào đó. Rủi ro phi hệ thống bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Trong quá trình kinh doanh, định mức thực tế không đạt được như kế hoạch gọi là rủi ro kinh doanh, chẳng hạn lợi nhuận trong năm tài chính thấp hơn mức dự kiến. Rủi ro kinh doanh được cấu thành bởi yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại của công ty.
Rủi ro nội tại phát sinh trong quá trình công ty hoạt động. Rủi ro bên ngoài bao gồm những tác động nằm ngoài sự kiểm soát của công ty làm ảnh hưởng đến tình trạng hoạt động của công ty như chi phí tiền vay, thuế, chu kỳ kinh doanh. Rủi ro tài chính liên quan đến đòn bẩy tài chính, hay nói cách khác liên quan đến cơ cấu nợ của công ty. Sự xuất hiện các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra nghĩa vụ trả nợ trả lãi của công ty.
Rủi ro tài chính có thể tránh được nếu công ty không vay nợ. Như vậy, nhà đầu tư có thể gặp phải nhiều loại rủi ro khi tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, luận án này chỉ tập trung nghiên 13 cứu rủi ro thị trường. Hơn nữa, luận án chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ các mô hình đo lường rủi ro.
Theo Harry Markowitz, rủi ro cổ phiếu được đo lường bởi phương sai hoặc độ lệch chuẩn của chuỗi dữ liệu tỷ suất sinh lời cổ phiếu. Phương sai (σ2) = E((Ri – E(Ri))2 Độ lệch chuẩn (σ) = E(R i E(R i )) 2 Hai chỉ số Hn-Index và Vn-Index được ngầm định đại diện cho thị trường cổ phiếu niêm yết Việt Nam nên rủi ro thị trường cổ phiếu Việt Nam sẽ được đo lường bởi phương sai hay độ lệch chuẩn của chuỗi dữ liệu tỷ suất sinh lời thị trường cổ phiếu. Lưu ý, với công thức tính trên, rủi ro của cổ phiếu không phân biệt đâu là rủi ro hệ thống hay rủi ro phi hệ thống. Điều này không ảnh hưởng đến mục tiêu của đề tài vì nghiên cứu đi theo hướng phân tích dự báo giá và rủi ro cho thị trường cổ phiếu niêm yết Việt Nam thông qua mô phỏng và phân tích biến động của chuỗi dữ liệu giá và suất sinh lợi của thị trường mà không chú trọng phân tách các nhân tố tác động tạo ra tính biến động đó.3Tổng quan về mô hình đo lường rủi ro Cho tới nay, theo sự phát triển của thời gian, đã có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro trong tài chính.
Năm 1938, Macaulay là người đầu tiên đề xuất phương pháp đánh giá rủi ro của lãi suất trái phiếu. Phương pháp này giúp tính toán kỳ hạn hoàn vốn trung bình của trái phiếu Năm 1952, Markowitz mở đường cho phương pháp phân tích quan hệ rủi ro – lãi suất qua mô hình phân tích trung bình và phương sai (Mean–Variance Analysis). Cho tới nay, phương pháp này vẫn được ứng dụng rộng rãi trong quản lý các danh mục và cơ cấu đầu tư. Quá trình quản lý danh mục gồm 3 khâu: Lựa chọn, điều chỉnh và đánh giá thực hiện.