chương I theo mã ICD-10), và bệnh hô hấp (chương X) chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 24,5% và 24,1% [3]. Nghiên cứu của Võ Phương Khanh tại bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2010 cho thấy nhóm bệnh thường gặp ở trẻ em giai đoạn 2005-2007 là nhóm bệnh hô hấp (39%), bệnh nhóm nhiễm trùng và ký sinh trùng (28,2%), bệnh tiêu hóa (8,9%), và bệnh bẩm sinh (4,3%) [9]. Tỷ lệ nhập viện điều trị bệnh hô hấp ở trẻ em và các yếu tố liên quan 1. Giới và nhóm tuổi Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhóm tuổi là yếu tố phổ biến đối với tình trạng nhập viện liên quan đến bệnh hô hấp.
Nghiên cứu của Uijen cho thấy tỷ suất nhập viện do bệnh hô hấp ở nhóm từ 0-4 tuổi cao hơn so với các nhóm còn lại, lần lượt gấp 2,43 lần so với nhóm 5-9 tuổi và 8,13 lần so với nhóm 10-17 tuổi (giá trị p<0,01) [90]. Đối với các trường hợp trẻ nhập viện tại khoa cấp cứu, nghiên cứu của Oguonu năm 2014 tại Nigeria trên 8.974 trẻ ghi nhận 2.214 trẻ nhập viện liên quan đến bệnh hô hấp (24,7%), với trẻ dưới 5 tuổi chiếm đa số có ý nghĩa thống kê (p<0,001) [67]. Đối với trẻ dưới 5 tuổi, nghiên cứu của Ueno tại Philippines năm 2019, Anders Koch năm 2003, hay nghiên cứu của Võ Minh Hiền năm 2019 cho thấy trẻ dưới 6 tháng tuổi là đối tượng có nguy cơ nhiễm đường hô hấp cao nhất so với các nhóm còn lại [8],[44],[89]. Điều này được giải thích qua các giai đoạn phát triển hệ thống hô hấp.
Các sự kiện xảy ra trong thời gian từ khi trẻ còn là bào thai hay giai đoạn mới sanh sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em và cả khi trở thành người trưởng thành. Trong đó, sự phát triển của phổi là một chuỗi các sự kiện các quan hệ chặt chẽ với nhau (Bảng 1. Hầu hết sự phát triển các nhu mô phổi xảy ra ở giai đoạn sau. Các phế nang phát triển nhanh trong các tháng đầu đời, với sự hoàn thiện của các ống dẫn chuyển tiếp và các túi phế nang.
Giai đoạn phế nang kéo dài đến 2-3 năm, với sự gia tăng về số lượng và kích cỡ của các túi phế nang. Các tế bào biểu mô ở vách tiểu thùy thứ cấp phát triển tối đa với sự chết tế bào theo chương trình (apotosis), sẽ mô hình lại các vách này từ một vòng mao quản kép thành một hình thái cuối cùng của một vòng lặp, hoàn thiện các mạch máu nhỏ. Các sự kiện này bắt đầu khi sinh cho tới năm 3 tuổi. Sự nhân lên các phế nang tiếp tục kéo dài 2-3 tháng sau sinh, trong khi kích cỡ các phế nang tiếp tục gia tăng đến khi trưởng thành [68].
Theo ước tính, trẻ mới sinh có 20-50 triệu túi phế nang, trong khi người trưởng thành là 300-500 triệu túi, tương đương 170 túi phế nang/mm3. Diện tích bề mặt trao đổi khí là 2,8m2, đạt 32m2 khi trẻ đạt 8 tuổi, và lên tới 75m2 khi trẻ trưởng thành. Có thể thấy giai đoạn trẻ dưới 3 tuổi mới chỉ là giai đoạn hoàn thiện các mao mạch phổi và tăng sinh tích cực các túi phế nang, trong khi trẻ từ 3 tuổi trở lên mới bước sang giai đoạn phì đại, khi kích thước túi phế nang gia tăng đáng kể để dần hoàn chỉnh các chức năng phổi [68]. Sự phát triển của phổi ở 2 giới nam và nữ cũng có sự khác biệt, do đó yếu tố giới tác động đáng kể đến tình trạng bệnh hô hấp ở trẻ em.
Khác biệt về cấu trúc và chức năng bề mặt đường thở ở bé trai làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong liên quan đến bệnh hô hấp so với bé gái [78]. Bên cạnh đó, trong giai đoạn đầu phát triển ở trẻ, quá trình methy hóa DNA được cho là nguyên nhân ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe hô hấp ở hai giới, dẫn đến chức năng hô hấp ở nam giới dễ bị tổn thương hơn ở nữ giới [65]. Tuy phổi ở bé trai có kích thước lớn hơn, là kết quả do số lượng túi phế nang nhiều hơn và bề mặt phế nang lớn hơn so với bé gái, tuy nhiên các bé gái có mật độ lưu thông của dòng khí hô hấp phù hợp hơn, giúp làm giảm áp lực đường thở và tăng tính dẫn cho hệ hô hấp [78]. Nghiên cứu phân tích đoàn hệ dựa trên dân số của Atar năm 2018 theo dõi 240.953 trẻ mới sinh (với 51% là nam giới).
Trong suốt 18 năm theo dõi, nghiên cứu ghi nhận 13.719 trẻ (5,7%) phát triển tình trạng bệnh liên quan đến đường hô hấp. Các trẻ nam có tỷ lệ mắc bệnh hô hấp cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ (6,4%. so với 4,9%, OR=1,32, 95%CI: 1,28-1,37, p<0,001) ở hầu hết các nhóm bệnh liên quan đường hô hấp, gồm viêm phổi, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, hen phế quản, và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Nghiên cứu cũng cho kết quả nam giới có nguy cơ mắc bệnh hô hấp cao hơn gấp 1,29 lần (95%CI: 1,25-1,34, p<0,001) so với nữ giới ở tất cả các nhóm bệnh hô hấp theo hồi quy Cox được kiểm soát bởi yếu tố tuổi, cân nặng khi sanh [15].
Soren JF nghiên cứu tại Đan Mạch năm 2004 trên toàn bộ dân số cho thấy tỷ suất nhập viện do bệnh hô hấp từ năm 1995-1999 ở đối tượng dưới 25 tuổi là 7,98 trên 1000 tường hợp nhập viện. Tỷ suất nhập viện ở trẻ từ 0- dưới 5 tuổi ở nam và nữ lần lượt là 33,4 và 23,0 trên 1000 trường hợp nhập viện. Đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên, tỷ suất nhập viện ở hai nhóm nam và nữ giảm dần, lần lượt là 6,6 và 4,1 ở nhóm 5- dưới 10 tuổi, 1,84 và 1,63 ở nhóm 10- dưới 15 tuổi, và tỷ suất nhập viện ở hai nhóm không thay đổi đáng kể ở nhóm từ 15 tuổi trở lên. Tỷ số tỷ suất nhập viện ở nam/nữ do các bệnh liên quan đến các trường hợp nhiễm hô hấp lần lượt là 1,45 (với 95%CI từ 1,42-1,48) ở nhóm tuổi từ 0-5 tuổi, 1,62 (95%CI từ 1,55-1,70) ở nhóm 5- dưới 10 tuổi, 1,13 (95%CI: 1,04-1,22) ở nhóm 10- dưới 15 tuổi và 0,83 (95%CI: 0,76-0,83) ở nhóm 15- dưới 20 tuổi [41].
Tác nhân vi sinh và tính mùa Đặc tính mùa và khả năng lây nhiễm cao là đặc tính chủ yếu của tình trạng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính. Theo ước đoán có đến 75% trường hợp bệnh hô hấp chung là do bệnh hô hấp cấp tính, và 80% trường hợp bệnh này là do vi rút. Các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (chủ yếu do Rhinovirus và nhóm Coronavirus) như viêm mũi, viêm hầu họng và viêm thanh quản là các bệnh phổ biến nhất ở trẻ em, có nguy cơ mắc từ 3 đến 8 lần ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, với số mới mắc khác biệt theo nhóm tuổi, chủ yếu là nhóm trẻ nhỏ mắc nhiều nhất (chiếm 80-90% trường hợp chẩn đoán xác định ở các bệnh lý hô hấp trẻ em do vi rút) [11],[77]. Các trường hợp bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên có thể dẫn đến trầm trọng tình trạng hen cấp, viêm tai giữa cấp và nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, như viêm cuống phổi, viêm phổi và viêm phế quản.
Trường hợp chẩn đoán bệnh ảnh hưởng đến đường hô hấp dưới chiếm 50% trường hợp chẩn đoán hô hấp ở trẻ, với ước đoán khoảng 12-32 triệu ca mắc mỗi năm ở trẻ từ 1-2 tuổi tại Mỹ [11],[17],[77]. Theo ước đoán toàn cầu, tỷ lệ tử vong trẻ sau sinh do nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới chiếm 20% trường hợp tử vong, chủ yếu do các vi rút hợp bào hô hấp (Respiratory syncytial virus, RSV) và vi rút cúm (9,5%) [49]. Ở nhiều nước, các trường hợp nhiễm hô hấp cấp tính gia tăng theo mùa do sự xuất hiện của các chủng vi rút đặc trưng ở thời gian đó. Vi rút hợp bào hô hấp (RSV) xuất hiện ở mùa đông ở châu Âu, hoặc mùa mưa ở các nước nhiệt đới, và dịch thường kéo dài từ 3-5 tháng [68],[79].
Theo ước đoán, khoảng 60% trường hợp trẻ em sau khi sinh bị nhiễm trong suốt 1 năm đầu đời, và tất cả trẻ tiếp xúc với nó vào năm 2 tuổi, chiếm 25-40% trường hợp nhiễm khuẩn tiến triển thành nhiễm khuẩn hô hấp dưới, và 2% phải yêu cầu nhập viện [68]. Trong khi vi rút cúm thường hoạt động cả năm, với 1 đỉnh cao nhất vào mùa khô, và một đỉnh thấp hơn vào mùa mưa [93]. Vi rút hợp bào hô hấp (RSV) thường xảy ra cùng lúc với dịch cúm, và có mối liên quan giữa các mùa đặc trưng với nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn ở nhiều nước khác nhau [79]. RSV gây bệnh nhiễm khuẩn hô hấp dưới trầm trọng ở trẻ em dưới 1 tuổi, thường đạt đỉnh ở trẻ 3 tháng tuổi [70].
Vi rút á cúm thường gây bệnh ở nhóm trẻ lớn hơn so với RSV. Vi rút á cúm type 1 gây bệnh chủ yếu ở trẻ sơ sinh từ 7-36 tháng tuổi, với đỉnh cao nhất ở trẻ 2-3 tuổi. Đỉnh của á cúm type 2 xuất hiện ở trẻ 2 tuổi, nhưng type 3 thường xảy ra ở trẻ 6 tháng đến dưới 1 tuổi [57]. Tất cả các nhóm tuổi đều có nguy cơ mắc cúm A và B, tuy nhiên tỷ lệ tấn công cao nhất ở nhóm tuổi trẻ em trước khi đến trường (40%) và trẻ em tuổi đi học (30%), và cao hơn 10-20% ở các nhóm trẻ vị thành niên [31],[58].
Các nhóm bệnh đường hô hấp - Nhiễm đường hô hấp trên (J00-J06) • Viêm hầu/họng (J02, J02.9) Viêm hầu/họng là bệnh thường gặp trong tháng 9-12, nhưng nó có thể xảy ra quanh năm, với tỷ lệ trẻ nam mắc nhiều hơn trẻ nữ. Hằng năm, tại Mỹ, viêm hầu/họng chiếm khoảng 7% trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi phải nhập viện [98]. Bệnh ảnh hưởng. 3% trẻ em mỗi năm, thường gặp ở trẻ từ 6 tháng tuổi đến 3 năm tuổi.
Viêm hầu/họng thường gây ra bởi vi rút, trong đó thường gặp nhất là do tác nhân vi rút á cúm Parainfluenza type 1-3, chiếm hơn 75% trường hợp. Khoảng 80% trường hợp bệnh được đánh giá là nhẹ, và ít hơn 1% bệnh tiến triển nặng [42]. • Viêm thanh nhiệt (Croup) (J04, J05) Viêm thanh nhiệt là một bệnh nhiễm khuẩn cấp gây tắc nghẽn khí quản có thể gây nguy hiểm. Trước khi có vắc xin Hib, Haemophilus influenza típ B là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh viêm thanh nhiệt ở trẻ dưới 5 tuổi.
Tỷ suất mới mắc viêm thanh nhiệt ở trẻ dưới 5 tuổi là 15 ca / 100.000 dân, với đỉnh mắc cao nhất nằm ở nhóm trẻ 3 tuổi.