Chương I: Các hinh thức đồng phạm. Chương II: Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. + * Bản luận án được hoàn thành dưới sự hướng dân giúp đỡ trực tiếp. tận tình cua PTS Lê Thi Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Dai học Luật Hà Ndi, càng với các thầy.
cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cẩm on sự giúp do quý bdu của các thầy cỏ và các ban. Với trình độ và khả năng còn hạn chế. lan đầu tiên di sâu nghiên cứu một vấn đề có tính chất khoa học.
mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực của bản than, song chắc chắn luận án không tránh khỏi những thiếu sói. Tôi kính mong tit cá các thầy cô giáo củng các bạn đóng góp ý kiến phê bình dé bản luận án được hoàn chỉnh hơn. Mot lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn về sự giúp đỡ trực tiếp của cô giáo Lê Thi Sơn, của các thay cô và các bạn đố: với việc hoàn thành bản luận án này. Học viên Nguyễn Thị Hải Yến co CHUONG I KHÁI NIỆM DONG PHAM VA CAC LOẠI NGƯỜI DONG PHAM Li.
KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CUA DONG PHAM. Khái niệm đồng phạm. Trong thực tế, tội phạm có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nó có thể là hành vi của một người, nhưng không ít trường hợp tội phạm xây ra do nhiều người cố ý cùng thực hiện.
Trường hợp này, mỗi người phạm tội có thể có vai trò, vi tri khác nhau, thực hiện những hành vi (khách quan) khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm mục đích là thực hiện trọn vẹn một tội phạm. Luật hình sự Việt Nam coi hiện tượng đó là đồng phạm. Đồng phạm là việc hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm (Điều 17- Bộ luật hình sự). Qui định này tuy ngắn gọn nhưng đã thé hiện rõ những dấu hiệu khách quan và chủ quan của đồng phạm.
Do thoả mãn dấu hiệu đó mà những vụ phạm tội là đồng phạm thường nguy hiểm hơn so với các trường hợp phạm tội đơn lẻ. Trước tiên chúng ta thấy rằng trong hoạt động lao động binh thường, khi có nhiều người tham gia cùng làm thi quyết tâm làm việc 6 mỗi người sẽ cao hơn và công việc tiến triển sẽ tốt hơn. Trong hoạt động phạm tội cũng vậy, khi có nhiều người tham gia thi ở mỗi người đồng phạm quyết tâm phạm tội sẽ mạnh hơr., mức độ lo sợ sẽ giảm đi, như vậy họ sẽ bình tinh khi phạm tội và dé dàng Jat được hậu qua hơn: Và do đó tính chất nguy hiểm của những hành vị nhạ:r, tội được thực hiện bằng hình thức đồng phạm thông thường cao hơn so với trường hợp phạm tội riêng lẻ. Điều này được thể hiện rõ rệt nhất trong rac vụ đồng phẹ:n phức tạp.
Hành vi của những người đồng phạm khác (người xúi giục, người tổ chức, người giúp sức) mặc dù không (rực tiếp gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng lại tác động đến người thực hành nhằm làm nay sinh, hoặc củng cố ý định, hoặc điều khiển, hoặc tạo điều kiện thuận lợi 0 cho hoạt động phạm tội ở người thực hành để họ thực hiện hành vi phạm lội và từ đó, ý định phạm tội của người thực hành sẽ được củng cố mạnh hơn, họ sẽ yén tâm hơn khi thực hiện tội phạm, đồng thời cũng có điều kiện thực hiện tội phạm dé dàng hơn, với quy mô lớn hơn. Trong một số trường hợp đồng phạm thì yếu tố nhiều người tham gia nhiều khi là điều kiện quyết định việc tội phạm có được thực hiện hay khong hay có được thực hiện tới cùng hay không. Đó là các trường hợp mà việc thực hiện được tội phạm hay thực hiện được tội phạm đến cùng phụ thuộc rất lớn vào kha nang đè bẹp sự phan kháng của đối tượng bị hành vi phạm tội tấn công. Nhiều người cùng phạm tội thì khả năng chống cự của đối tượng bị tấn công là rất thấp (trong những vụ đồng phạm xâm phạm nhân thân) ví dụ : Khi một người phạm tội giết người hoặc hiếp dâm thì chưa chắc ý định phạm tội của người này đã thực hiện được vì sẽ vấp phải sự chống cự của đối tượng bị tấn công mà mình chưa chắc đã đè bẹp được sự kháng cự này.
Nhưng khi có sự cộng tác của nhiều người phạm tội thì sự chống cự sẽ dễ dàng bị đè bẹp và sẽ tạo khả năng thực hiện tội phạm hoặc thực hiện tội phạm đến cùng. các vụ đồng phạm xảy ra thường là những vu rất khó khăn cho công tác điều tra, khám phá vụ án. Bởi vì trong những trường hợp đó việc che dấu, xoá những dấu vết của tội phạm được tiến hành chu đáo hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ. Trong phạm tội đơn lẻ, một người thực hiện nhiều hành vi có thể chuẩn bị từ khâu phạm tội đến việc thực hiện tội phạm và che dấu tội phạm.
Cho nên trong khi tiến hành phạm tội ở họ có thể có những sai sót nhát định mà một mình họ không thể kiểm soát được, nhưng khi có nhiều người cùng tham gia thi sơ xuất của một người có thể người khác trong số họ nhận ra để khắc phục. Đặc biệt là trong những vụ đồng phạm mà giữa những người đồng phạm đã có sự bàn bạc, thống nhất ý kiến từ trước và có phân công rõ rệt cho tùng người thi kha năng khám phá ra vụ án là rất khó khăn vi Ke a wd 9 ` JAG oA ah 2° mồi người trong số ho chi lam một việc nhất định. Trong đồng phạm, khi nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm thi giữa ho sẽ hình thành nên sự cấu kết ở mức độ nhất định. Giữa những người đồng phạm có thể có sự bàn bạc, thoả thuận với nhau về cách thức thực hiện tôi phạm, về công cụ, phương tiện phạm tội, về cách thức che dấu tội phạm và như vậy dễ tìm ra cách thức thực hiện tội phạm sao cho hiệu quả nhất, nhanh chóng đạt được mục đích phạm tội.
Như vậy, chúng ta thấy rằng, phạm tội dưới hình thức đồng phạm là một hình thức phạm tội nguy hiểm biểu hiện qua các dấu hiệu chủ quan và khách quan của nó. Thông thường phạm tội dưới hình thức này rất đễ gây ra hậu quả và hậu quả của nó thường là nghiêm trọng hơn các trường hợp phạm tội đơn lẻ. Mặt khác, việc điều tra đối với các vụ đồng phạm thường là rất khó khăn, đồng thời ảnh hưởng đối với xã hội rất lớn. Do đó, việc giải quyết tốt vấn đề đồng phạm luôn là một vấn dé bức xúc và giải quyết tốt vấn dé này sẽ góp phần quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn công tác đấu tranh, ngăn ngừa và chống tội phạm.
Ở nước ta, quá trình hình thành và phát triển của chế định đồng phạm ean liền với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự nói chung. Trước đây đồng phạm mới chỉ được ghi nhận, xem xét ở một số khía cạnh nhất định; khái niệm đồng phạm chưa được định ra một cách rõ nét mà chi được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật hình sư.) Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm được hình thành ngày một hoàn chỉnh hơn. Trong cuốn “Mội số vấn đề pháp lý phổ thông'” đồng phạm được hiểu là một hành vi đồng phạm thống nhất được thực hiện nhờ hoạt động chung của một số người. Trong báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của Toà án nhân dân tối cao đã định nghĩa về đồng _- Ví dụ như: Sắc lệnh số 6, ngày 15-1-1946 về trừng trị tội "trộm cắp tự ý phá huỷ dây điện thoại hoặc dây điện tin";- Sắc lệnh số 223/SL, ngày 17-1-1946 trừng trị các tội hối lộ: Sắc lệnh s6133/SL, ngày 20-1-1953 v.
° - Một số vấn đề pháp lý phổ thông. in lần thứ nhất, nam 1962. 1) phạm như sau: "Coi la cộng phạm nếu 2 hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục. hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia thực hành tội phạm để cùng dat tới mội kết quả phạm tội "`.
Hoặc khi hướng dẫn xử lý tội giết trẻ em sơ sinh, Toà án nhân dân tối cao cũng đã hướng dẫn: “Nhận định một người là cộng phạm, cần có day du căn cứ khách quan và chu quan. Về khách quan, phải chứng minh rằng người đó đã cùng chung hành động với bị can hoặc tổ chức. hoặc vui giục, giúp đỡ việc thực hiện tội phạm. Về chu quan, phải chứng minh rang họ cùng chung ý định phạm lội với bi can để giết đứa tre”.
Mot số văn bản pháp luật được ban hành sau này như Pháp lệnh trừng trị các tội phan cách mạng, ngày 30-10-1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, ngày 21-10-1970. đã nêu ra nguyên tắc xử lý, có phân biệt các hình thức đồng phạm, có phân biệt hành vi “ow /rữ“- tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ của gian là đồng phạm và hành vi “oa /rữ” không là đồng phạm (nếu không có sự hứa hẹn trước). và đưa ra nguyên tắc xử lý có phân hoá các đối tượng phạm tội như cần phải trừng trị nghiêm khắc đối với bọn “phạm tội có 16 chức” : "phạm toi có móc ngoặc”. hoặc “nghiêm tri” bọn chủ mưu, bọn cầm đầu và bọn chỉ huy.
Khi Bo luật hình sự năm 1985 của nước ta được ban hành thi đồng phạm đã trở thành một chế định độc lập của luật hinh sự. Định nghĩa về đồng phạm được nêu rõ và được ghi nhận tại Điều 17 Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước khi đi sâu vào tìm hiểu qui định này của pháp luật, nên tìm hiểu nghĩa của từ đồng phạm. 2m) Theo từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, Nha xuất ban Khoa học - Xã hội, ấn hành năm 1991 thì “Đồng phạm” được bộ luật hình sự Việt Nam sử | xế F & aL N La vt ~ soe - Tap hệ thông hoá luật lệ về hình sự.
Toà án Nhân dân tối cao, năm 1975. to dụng thay cho thuật ngữ “Cộng phạm” trong các văn bản pháp lý trước đây. Sở di nhà làm luật thay thuật ngữ “Cộng phạm" bằng “Đồng phụm” là để cho dé hiểu hơn mà thôi, còn nội dung pháp lý của nó thì không khác nhau.