Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế quốc tế với tiêu đề "Export Dynamics of Vietnam: Trade in Value Added (TiVA) Approach" (tạm dịch: Động lực cho xuất khẩu của Việt Nam: Tiếp cận từ phương pháp Giá trị gia tăng Thương mại) được nghiên cứu sinh Shashi Kant Prasad Chaudhary (mã số học viên: 15058009) thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-UEB), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Việt Khôi, hoàn thành và bảo vệ năm 2020 (mã số chuyên ngành: 9310106.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kể từ công cuộc Đổi mới cuối thập niên 1980 và các mốc hội nhập kinh tế quan trọng trong giai đoạn 1991–1995 (ký hiệp định thương mại với EU năm 1992, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN năm 1995), Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kinh tế bình quân 8,2% (1991–1995), 9,3% (1996) và duy trì bình quân 7% (1996–2000). Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 98 USD (1990) lên 434 USD (2000), tỷ lệ nghèo giảm từ 60% xuống 38%, chính thức đưa Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2010. Động lực chính cho sự tăng trưởng này được ghi nhận dựa trên dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hoạt động xuất khẩu.

Tuy nhiên, phương pháp thống kê thương mại truyền thống chỉ ghi nhận giá trị tổng của hàng hóa tại biên giới hải quan quốc gia mà không phân tách giá trị của các yếu tố đầu vào trung gian nhập khẩu. Điều này dẫn đến hiện tượng tính trùng lặp (multiple counting) trong số liệu xuất khẩu gộp của các nền kinh tế định hướng xuất khẩu tham gia vào các công đoạn cuối của chuỗi sản xuất. Chẳng hạn, trong năm 2014, xuất khẩu gộp của Việt Nam đạt 147 tỷ USD (chiếm 79,3% GDP), trong khi xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa (Domestic Value Added - DVA) chỉ đạt 94 tỷ USD (chiếm 50,3% GDP), tạo ra mức chênh lệch thổi phồng số liệu xuất khẩu lên tới 29 điểm phần trăm GDP. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là các đánh giá trước đây về đóng góp của xuất khẩu vào GDP và năng lực cạnh tranh của các ngành xuất khẩu Việt Nam dựa trên số liệu xuất khẩu gộp có thể bị sai lệch, đòi hỏi một sự đánh giá lại có hệ thống thông qua phương pháp tiếp cận Giá trị gia tăng Thương mại (TiVA).

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá động lực xuất khẩu của Việt Nam từ góc độ tiếp cận giá trị gia tăng thương mại (TiVA). Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:

  1. Xác định và đánh giá các ngành xuất khẩu đóng góp vào giá trị gia tăng nội địa (DVA) kết tinh trong tổng xuất khẩu của Việt Nam.
  2. Xác định và đánh giá các ngành xuất khẩu đóng góp vào giá trị gia tăng nước ngoài (FVA) kết tinh trong tổng xuất khẩu của Việt Nam.
  3. Đánh giá mối quan hệ đồng tích hợp giữa xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
  4. Đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của các ngành kinh tế Việt Nam.
  5. Đánh giá vị trí và mức độ tham gia của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC).

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Giá trị gia tăng nội địa kết tinh trong tổng xuất khẩu của Việt Nam bắt nguồn từ đâu trong nền kinh tế nội địa?
  2. Những ngành công nghiệp nào đang đóng góp vào sự gia tăng của giá trị gia tăng nước ngoài kết tinh trong tổng xuất khẩu của Việt Nam?
  3. Đóng góp thực tế của xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Động lực xuất khẩu của Việt Nam, được phân tích thông qua các biến số: giá trị gia tăng nội địa (DVA), giá trị gia tăng nước ngoài (FVA), năng lực cạnh tranh xuất khẩu (chỉ số RCA, RSCA) và mức độ/vị trí tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (GVC participation, GVC position, khoảng cách tới cầu cuối cùng DFD).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1995–2011 dựa trên cơ sở dữ liệu TiVA của OECD (ấn bản năm 2016); mở rộng giai đoạn 1995–2014 đối với phân tích thực nghiệm chuỗi thời gian về tăng trưởng hướng vào xuất khẩu.
  • Phạm vi không gian và ngành: Đánh giá 34 ngành kinh tế (phân loại theo ISIC Rev. 3.1) của Việt Nam trong quan hệ thương mại với 6 thị trường/khối kinh tế chính: Toàn cầu (World), Đông Á (East Asia), Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và khối BRIS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Nam Phi - tức nhóm BRICS loại trừ Trung Quốc).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Cơ sở nền tảng của phương pháp TiVA xuất phát từ mô hình phân tích liên ngành của Leontief & Strout (1963) và nghiên cứu của Sanyal & Jones (1982) về thương mại hàng hóa trung gian. Jones & Kierzkowski (2001) giải thích hiện tượng phân mảnh sản xuất quốc tế nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và cắt giảm rào cản hành chính. Để lượng hóa nội dung giá trị thương mại, Hummels, Ishii & Yi (2001) đưa ra khái niệm Chuyên môn hóa dọc (Vertical Specialization - VS) dựa trên bảng cân đối liên ngành đơn quốc gia. Tuy nhiên, phương pháp của Hummels et al. (2001) bộc lộ hạn chế khi áp dụng giả định hệ số đầu vào cho sản xuất xuất khẩu và tiêu dùng nội địa là như nhau, dẫn đến đánh giá thấp thành phần giá trị gia tăng nước ngoài đối với các nền kinh tế có tỷ trọng thương mại gia công chế biến cao như Trung Quốc hay Mexico (Koopman et al., 2008, 2010, 2012).

Daudin, Rifflart & Schweisguth (2009, 2011) sử dụng cơ sở dữ liệu GTAP để phân bổ lại giá trị gia tăng trong hàng hóa cuối cùng cho 113 quốc gia và 55 khu vực. Johnson & Noguera (2012) tính toán tỷ lệ giá trị gia tăng trên tổng xuất khẩu (tỷ lệ VAX) để đo lường mức độ chia sẻ sản xuất song phương. Foster, Stehrer & de Vries (2011) tập trung vào thương mại ròng theo giá trị gia tăng. Khung phân tích phân rã toàn diện được chuẩn hóa bởi nhóm tác giả Koopman, Wang & Wei (2008, 2010, 2012, 2014) và Koopman, Powers, Wang & Wei (2013), phân tách xuất khẩu gộp thành 4 cấu phần giá trị gia tăng nội địa và 1 cấu phần giá trị gia tăng nước ngoài, loại bỏ hoàn toàn hiện tượng tính trùng lặp.

Các ứng dụng thực nghiệm nổi bật của phương pháp TiVA được tác giả tổng hợp gồm:

  • Tái phân bổ cán cân thương mại song phương: Benedetto (2012) và Dervis et al. (2013) chỉ ra thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Trung Quốc năm 2012 giảm 25% khi tính theo TiVA, do giá trị linh kiện từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức được bóc tách đúng nguồn gốc.
  • Đánh giá hiệu lực của các biện pháp phòng vệ thương mại: Điển hình là việc Ủy ban Châu Âu (EC, 2006) áp thuế chống bán phá giá lên giày da nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam. Nghiên cứu của Ủy ban Thương mại Thụy Điển (NBT, 2012) bằng phương pháp TiVA chỉ ra rằng 50–80% giá trị gia tăng của các đôi giày này thực chất nằm tại EU (thiết kế, tiếp thị, phân phối), do đó biện pháp áp thuế đã gây tổn hại ngược lại cho chính các doanh nghiệp EU.
  • Đo lường năng lực cạnh tranh thực tế: Johnson (2013) phát hiện Trung Quốc bị đảo ngược lợi thế so sánh ở ngành máy tính từ có lợi thế sang không có lợi thế khi chuyển từ xuất khẩu gộp sang TiVA. Tương tự, Koopman et al. (2014) cho thấy ngành sản phẩm kim loại hoàn thiện của Ấn Độ chuyển từ có lợi thế so sánh hiển hiện (RCA) sang bất lợi thế so sánh khi đo bằng DVA.

Các nghiên cứu tại Việt Nam và khoảng trống nghiên cứu

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về chuỗi giá trị chủ yếu tập trung vào các ngành hàng cụ thể: dệt may (Nadvi & Thoburn, 2003; Ha, 2012; Tran, 2012), lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long (World Bank, 2011), da giày (Hoang & Pham, 2016), hoặc nông nghiệp trong mối quan hệ với FTA (Dao & Nguyen, 2013). Các công trình nghiên cứu tổng thể toàn nền kinh tế chỉ có Tran et al. (2011) (sử dụng bảng I-O 2007) và Thanh et al. (2015) (sử dụng bảng I-O 2011). Tuy nhiên, cả hai công trình này đều áp dụng phương pháp chuyên môn hóa dọc của Hummels et al. (2001) trên bảng I-O nội địa, chưa tính toán được dòng liên kết xuất khẩu tái nhập khẩu và giả định tính đồng nhất của sản phẩm.

Luận án xác định 4 khoảng trống học thuật cần giải quyết:

  1. Khoảng trống biến số (Variables gap): Thay thế biến số xuất khẩu gộp truyền thống bằng xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa (DVA) trong phân tích tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh.
  2. Khoảng trống dữ liệu (Significance gap): Sử dụng bảng cân đối liên ngành liên quốc gia (ICIO) của OECD thay vì bảng I-O nội địa đơn lẻ.
  3. Khoảng trống phương pháp tiếp cận (Approach gap): Áp dụng khung phân rã hoàn chỉnh của Koopman et al. (2014) thay cho mô hình giả định hạn chế của Hummels et al. (2001).
  4. Khoảng trống phân tích chuỗi giá trị và chuỗi thời gian: Bổ sung đo lường liên kết phía trước, khoảng cách đến cầu cuối cùng (DFD), kiểm định tính dừng và gãy cấu trúc (structural breaks) trong phân tích chuỗi thời gian của mô hình tăng trưởng kinh tế hướng vào xuất khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình toán học

Luận án xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân tích đầu vào - đầu ra (Input-Output Analysis) mở rộng cho mô hình đa quốc gia, liên ngành (ICIO). Trường hợp tổng quát một quốc gia với $N$ ngành được biểu diễn qua phương trình cân đối:

$$Y = AY + D \implies Y = (I - A)^{-1}D$$

Trong đó $Y$ là véc-tơ tổng sản lượng kích thước $(N \times 1)$; $A$ là ma trận hệ số kỹ thuật kích thước $(N \times N)$ với các phần tử $a_{kl} = y_{kl}/y_l$; $D$ là véc-tơ cầu cuối cùng $(N \times 1)$; $(I - A)^{-1} = L$ là ma trận nghịch đảo Leontief.

Quy trình tính toán các thành phần giá trị gia tăng xuất khẩu gồm 5 bước:

  • Bước 1: Xác định ma trận nhân tử Leontief $L = (I - A)^{-1}$.
  • Bước 2: Xác định ma trận đường chéo tỷ trọng giá trị gia tăng $B$, với các phần tử đường chéo $b_i = v_i / y_i$ ($v_i$ là giá trị gia tăng của ngành $i$).
  • Bước 3: Thiết lập ma trận nhân tử giá trị gia tăng $V = L \times B$.
  • Bước 4: Thiết lập ma trận đường chéo xuất khẩu gộp $X$ với các phần tử đường chéo $x_i$.
  • Bước 5: Tính ma trận giá trị gia tăng kết tinh trong xuất khẩu gộp $H = V \times X = L \times B \times X$.

Trong ma trận $H$, các phần tử trên đường chéo chính đại diện cho giá trị gia tăng nội địa (DVA) của từng ngành, và tổng các phần tử ngoài đường chéo biểu thị giá trị gia tăng nước ngoài (FVA) kết tinh trong xuất khẩu của ngành đó.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Luận án kết hợp các kỹ thuật định lượng theo từng mục tiêu cụ thể:

Hướng phân tích Công cụ / Chỉ số sử dụng Nguồn gốc phương pháp / Kỹ thuật
Kiểm định tăng trưởng do xuất khẩu ARDL Bounds Test, ECM, BURT, CURT Kiểm định gãy cấu trúc (Perron, 1989), ARDL (Pesaran et al., 2001), Breusch-Godfrey LM, Wald test, CUSUM.
Năng lực cạnh tranh xuất khẩu Chỉ số Balassa ($BI$), Chỉ số $RSCA$, Hồi quy Galtonian $BI$ (Balassa, 1965), $RSCA = (BI-1)/(BI+1)$ (Dalum et al., 1998), mô hình hồi quy cắt ngang xác định xu hướng chuyên môn hóa ($\beta$) và độ phân tán ($\rho$).
Tham gia Chuỗi giá trị toàn cầu Chỉ số tham gia GVC, Vị trí GVC, Khoảng cách tới cầu cuối cùng ($DFD$) Chỉ số tham gia và vị trí GVC (Koopman et al., 2010), Khoảng cách tới cầu cuối cùng $DFD$ (Fally, 2012).

Hồi quy Galtonian kiểm định tính ổn định của chuyên môn hóa xuất khẩu qua phương trình:

$$RSCA_{j,t} = \alpha_j + \beta_j RSCA_{j,t-k} + \epsilon_{j,t}$$

Quy tắc diễn giải tham số $\beta$:

  • $\beta = 1$: Cơ cấu chuyên môn hóa không đổi.
  • $\beta > 1$: Chuyên môn hóa gia tăng ($\beta$-specialisation) — ngành có lợi thế càng tăng lợi thế, ngành kém lợi thế càng suy giảm.
  • $0 < \beta < 1$: Giảm mức độ chuyên môn hóa ($\beta$ de-specialisation) — các ngành kém lợi thế cải thiện chỉ số RSCA.
  • $\beta < 0$: Đảo ngược mô hình chuyên môn hóa.
  • So sánh $\beta$ với hệ số tương quan $\rho$: $\beta = \rho$ (độ phân tán không đổi), $\beta > \rho$ (độ phân tán tăng), $\beta < \rho$ (độ phân tán giảm).

Chỉ số tham gia GVC và Vị trí GVC của Koopman et al. (2010):

$$\text{GVC participation index} = \frac{IDC^*}{EXGR} + \frac{FVA}{EXGR}$$

$$\text{GVC position index} = \ln\left(1 + \frac{IDC^*}{EXGR}\right) - \ln\left(1 + \frac{FVA}{EXGR}\right)$$

Trong đó $IDC^*$ là giá trị gia tăng nội địa trong hàng hóa trung gian xuất khẩu được nước nhập khẩu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu sang nước thứ ba (liên kết phía trước); $FVA$ là giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu gộp (liên kết phía sau); $EXGR$ là tổng xuất khẩu gộp.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ:

  • Cơ sở dữ liệu OECD TiVA (ấn bản 2016), bao gồm 50 ngành theo mã ISIC 3.1 tổng hợp thành 34 ngành cho giai đoạn 1995–2011.
  • Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
  • Trung tâm dữ liệu UNCTAD (UNCTAD Data Centre).
  • Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu (Introduction)

Chương 1 trình bày bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam từ sau Đổi mới, nêu rõ tính cấp thiết của việc áp dụng cách tiếp cận TiVA trong bối cảnh thương mại quốc tế có sự phân mảnh sâu sắc. Tác giả chỉ ra sự thiếu tin cậy của số liệu thống kê xuất khẩu gộp trong việc định hình chính sách công nghiệp và thương mại thông qua hai dẫn chứng thực tế: trường hợp lắp ráp iPhone 4 tại Trung Quốc (Xing & Detert, 2010) và vụ kiện áp thuế chống bán phá giá giày da của Liên minh Châu Âu đối với Việt Nam và Trung Quốc năm 2006. Chương này cũng xác định rõ 5 mục tiêu nghiên cứu, 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi dữ liệu (OECD TiVA 2016 giai đoạn 1995–2011) và bố cục 8 chương của luận án.

Chương 2: Tổng quan tài liệu (Literature Review)

Chương 2 tổng thuật các tài liệu học thuật về nguồn gốc, khung lý thuyết và ứng dụng thực tiễn của phương pháp TiVA. Tác giả phân tích chi tiết 6 khía cạnh chính mà tiếp cận giá trị gia tăng làm thay đổi nhận thức chính sách:

  1. Thấu hiểu chính xác hơn về mất cân bằng thương mại song phương;
  2. Đánh giá đúng hiệu lực của hàng rào thuế quan và biện pháp phòng vệ thương mại;
  3. Phân tích nội dung việc làm thực tế do thương mại tạo ra;
  4. Đo lường chính xác năng lực cạnh tranh thương mại (tránh hiện tượng đảo ngược lợi thế so sánh);
  5. Đo lường liên kết xuôi và ngược của nền kinh tế trong mạng lưới sản xuất toàn cầu;
  6. Đánh giá công bằng tác động môi trường và phân bổ trách nhiệm phát thải carbon giữa nước sản xuất và nước tiêu dùng cuối cùng. Chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu về chuỗi giá trị và phân rã xuất khẩu tại Việt Nam, từ đó xác lập 4 khoảng trống nghiên cứu chính.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu (Research Methodology)

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu dọc dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian. Tác giả trình bày chi tiết mô hình toán học giải ma trận liên ngành ICIO ($1 \times N$ ngành), quy trình tính toán ma trận hệ số giá trị gia tăng $H$, kỹ thuật kiểm định nghiệm đơn vị có gãy cấu trúc (BURT - Perron 1989), phương pháp ARDL Bounds Test kiểm định đồng tích hợp giữa DVA và GDP thực tế, phương pháp tính chỉ số Balassa ($BI$), chỉ số lợi thế so sánh đối xứng ($RSCA$) kết hợp hồi quy Galtonian, và công thức tính toán chỉ số tham gia GVC, vị trí GVC và khoảng cách tới cầu cuối cùng ($DFD$). Bảng phân loại 34 ngành kinh tế theo mã ISIC Rev. 3.1 cũng được hệ thống hóa tại chương này.

Chương 4: Nguồn gốc và điểm đến của giá trị gia tăng trong tổng xuất khẩu của Việt Nam (Sources and Destinations of Value Added Embodied in Gross Exports of Vietnam)

Chương 4 phân tích các số liệu định lượng về DVA và FVA của Việt Nam trong giai đoạn 1995–2011:

  • Quy mô xuất khẩu DVA tăng từ 5,5 tỷ USD (1995) lên 60,8 tỷ USD (2011), tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 16,3%.
  • Tỷ trọng DVA trong tổng xuất khẩu gộp có xu hướng giảm liên tục từ 78% (1995) xuống còn 64% (2011), phản ánh mức độ phụ thuộc ngày càng lớn vào linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu để gia công xuất khẩu (mô hình I2E - Import to Export).
  • Cơ cấu DVA theo khu vực ngành lớn (năm 2011): Khu vực chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất với 30 điểm phần trăm (tăng mạnh so với 1995); khu vực dịch vụ chiếm 20 điểm phần trăm (giảm từ mức 31 điểm phần trăm năm 1995); khu vực sơ cấp (nông nghiệp, khai khoáng) chiếm 14 điểm phần trăm.
  • 10 ngành đóng góp lớn nhất vào xuất khẩu DVA (mỗi ngành >1%): Nông nghiệp (ISIC 01T05), Khai khoáng (ISIC 10T14), Thực phẩm và đồ uống (ISIC 15T16), Dệt may và da giày (ISIC 17T19), Máy vi tính và điện tử (ISIC 30T33X), Máy móc thiết bị điện (ISIC 31), Chế tạo khác/đồ gỗ nội thất (ISIC 36T37), Bán buôn bán lẻ (ISIC 50T52), Khách sạn nhà hàng (ISIC 55), Giao thông vận tải và kho bãi (ISIC 60T63).
  • Bốn ngành đóng góp gần 50% tổng DVA của khối hàng hóa năm 2011 là Thực phẩm đồ uống, Khai khoáng, Dệt may da giày và Nông nghiệp. Tỷ trọng DVA của ngành trung gian tài chính (ISIC 65T67) bị suy giảm nghiêm trọng.
  • Nguồn gốc FVA: Nhập khẩu đầu vào phục vụ xuất khẩu tập trung mạnh nhất ở các ngành: Máy vi tính và điện tử, Dệt may da giày, Thực phẩm đồ uống, và Thiết bị điện. Các đối tác cung cấp đầu vào FVA lớn nhất đồng thời là thị trường tiêu thụ sản phẩm trung gian của Việt Nam là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Chương 5: Phân tích thực nghiệm về tăng trưởng hướng vào xuất khẩu của Việt Nam (An Empirical Analysis of Export-Led Growth of Vietnam)

Chương 5 kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa xuất khẩu và tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam giai đoạn 1995–2014:

  • Kiểm định nghiệm đơn vị có gãy cấu trúc (Breakpoint Unit Root Test - BURT) và kiểm định truyền thống (ADF) xác định bậc tích hợp của chuỗi dữ liệu chuỗi thời gian.
  • Mô hình tối ưu được lựa chọn là ARDL (1, 4), vượt qua các kiểm định chẩn đoán khuyết tật: kiểm định tự tương quan Breusch-Godfrey LM test, kiểm định tính ổn định tham số CUSUM, và kiểm định giả thuyết Wald.
  • Kết quả kiểm định biên (Bounds Test) xác nhận tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp dài hạn vững chắc giữa xuất khẩu DVA và GDP thực tế.
  • Hệ số co giãn dài hạn: Khi xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa (DVA) tăng 1%, GDP thực tế của Việt Nam tăng 0,73%.

Chương 6: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam (Export Competitiveness of Vietnam)

Chương 6 tính toán lại chỉ số RCA và RSCA dựa trên dữ liệu DVA và so sánh với RCA tính theo xuất khẩu gộp trên 6 thị trường đối tác giai đoạn 1995–2011:

  • Nhóm ngành có lợi thế cạnh tranh toàn cầu (Globally competitive): 3 ngành chế tạo duy trì lợi thế so sánh ổn định và nhất quán trên toàn bộ 6 thị trường (Thế giới, Đông Á, ASEAN, EU, NAFTA, BRIS) trong suốt 1995–2011 gồm: Nông nghiệp (ISIC 01T05), Thực phẩm và đồ uống (ISIC 15T16), Dệt may và da giày (ISIC 17T19).
  • Nhóm ngành có lợi thế cạnh tranh khu vực (Regionally competitive):
    • Khai khoáng: Có lợi thế tại Đông Á, EU, NAFTA.
    • Sản phẩm gỗ: Có lợi thế tại Thế giới, Đông Á, EU, NAFTA.
    • Khoáng phi kim loại: Chỉ có lợi thế tại NAFTA.
    • Máy tính và điện tử: Chỉ có lợi thế tại thị trường BRIS.
    • Bán buôn và bán lẻ: Có lợi thế tại tất cả các thị trường ngoại trừ ASEAN.
    • Khách sạn và nhà hàng: Có lợi thế tại Thế giới, Đông Á, EU, BRIS.
    • Sản xuất khác (đồ nội thất): Bộc lộ tiềm năng tăng trưởng DVA cao trong giai đoạn sau.
  • Hiện tượng sai lệch số liệu (Noise/Distortion):
    • Các ngành thâm dụng tài nguyên thiên nhiên (khai khoáng, chế phẩm dầu mỏ, sản phẩm gỗ) tạo ra hàm lượng DVA rất cao nhưng chỉ số RCA tính theo xuất khẩu gộp lại đánh giá thấp năng lực cạnh tranh thực tế của các ngành này.
    • Ngược lại, các ngành thâm dụng công nghệ và vốn nhân lực cao (điện tử, máy tính) chủ yếu thực hiện lắp ráp khâu cuối, dẫn đến giá trị xuất khẩu gộp và chỉ số RCA truyền thống bị thổi phồng vượt xa năng lực tạo giá trị nội địa.
    • Các ngành thâm dụng lao động kỹ năng thấp (dệt may, thực phẩm đồ uống) và ngành dịch vụ có sự tương thích cao giữa số liệu xuất khẩu gộp và số liệu DVA.
  • Kết quả hồi quy Galtonian chỉ ra xu hướng giảm mức độ chuyên môn hóa ($\beta$ de-specialisation, $0 < \beta < 1$) ở hầu hết các thị trường, phản ánh việc các ngành trước đây có RSCA thấp đang dần cải thiện chỉ số cạnh tranh.

Chương 7: Vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu (Where is Vietnam in Global Value Chain?)

Chương 7 định lượng mức độ và vị thế tham gia GVC của Việt Nam:

  • Mức độ tham gia GVC của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ, chủ yếu thông qua liên kết ngược (backward participation) — nhập khẩu linh kiện trung gian để gia công và xuất khẩu hàng cuối cùng trong các ngành: máy tính điện tử, dệt may da giày, thực phẩm đồ uống, máy móc thiết bị điện, kim loại cơ bản, thương mại và vận tải.
  • Chỉ số vị trí GVC (GVC Position Index) và Khoảng cách tới cầu cuối cùng ($DFD$) xác định vị trí của Việt Nam nằm ở hạ nguồn (downstream) của chuỗi giá trị — đóng vai trò là "trung tâm lắp ráp" (assembly powerhouse) với khoảng cách tới người tiêu dùng cuối cùng ngắn.
  • Phân tích tương quan chỉ ra: Tỷ lệ tham gia GVC có mối tương quan thuận với chỉ số RCA và tỷ trọng DVA xuất khẩu; có mối tương quan nghịch với khoảng cách tới cầu cuối cùng $DFD$ (ngoại trừ ngành dệt may da giày, thương mại - khách sạn, và trung gian tài chính).
  • So sánh mô hình phát triển: Luận án đối chiếu 4 mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu:
    1. Mô hình Đức - Nhật Bản (tự chủ công nghệ, công nghiệp phụ trợ mạnh);
    2. Mô hình "Những con hổ Châu Á" (nâng cấp công nghệ nội địa nhanh chóng);
    3. Mô hình Mexico (trở thành nền tảng sản xuất/gia công xuất khẩu cho các tập đoàn đa quốc gia MNCs dựa trên chi phí nhân công rẻ, ít phát triển năng lực công nghiệp bản địa);
    4. Mô hình Trung Quốc (tận dụng quy mô và từng bước ép buộc/chuyển giao công nghệ để làm chủ chuỗi). Kết quả đánh giá cho thấy cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam tương đồng chặt chẽ nhất với Mô hình Mexico.

Chương 8: Tóm tắt, phát hiện và đề xuất kiến nghị (Summary, Findings and Suggestions)

Chương 8 tổng hợp toàn bộ các kết quả nghiên cứu, phân nhóm các ngành công nghiệp để đề xuất các định hướng chính sách nhằm nâng cao giá trị gia tăng nội địa, cải thiện năng lực cạnh tranh và nâng cấp vị thế trong GVC. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải thoát khỏi bẫy gia công chi phí thấp kiểu Mexico thông qua liên kết doanh nghiệp nội địa với các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) và chuyển dịch sang các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trên đường cong nụ cười (Smile Curve).


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Loại bỏ tính trùng lặp trong dữ liệu thương mại quốc gia: Luận án cung cấp bức tranh định lượng hoàn chỉnh đầu tiên về cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam bằng việc bóc tách triệt để giá trị gia tăng nội địa (DVA) và giá trị gia tăng nước ngoài (FVA) theo chuẩn ICIO của OECD, khắc phục các hạn chế về giả định của các nghiên cứu trước đây dùng mô hình Hummels et al. (2001).
  2. Hiệu chỉnh sai lệch trong đo lường năng lực cạnh tranh: Luận án chứng minh số liệu xuất khẩu gộp truyền thống đã bóp méo chỉ số lợi thế so sánh hiển hiện (RCA): thổi phồng lợi thế ở các ngành lắp ráp thâm dụng công nghệ (điện tử, máy tính) và đánh giá thấp lợi thế ở các ngành thâm dụng tài nguyên thiên nhiên (khai khoáng, gỗ).
  3. Xác lập bằng chứng thực nghiệm về tính đồng tích hợp dài hạn: Chứng minh bằng thực nghiệm rằng xuất khẩu DVA có quan hệ đồng tích hợp dài hạn với GDP thực tế của Việt Nam (hệ số co giãn 0,73), loại trừ các kết luận mâu thuẫn trong các nghiên cứu chuỗi thời gian chưa xử lý gãy cấu trúc trước đó.
  4. Định vị chính xác vị thế của Việt Nam trong GVC: Xác định Việt Nam tham gia chuỗi giá trị chủ yếu qua liên kết ngược ở vị trí hạ nguồn (lắp ráp) và chỉ ra sự tương đồng của cấu trúc thương mại Việt Nam với mô hình tăng trưởng xuất khẩu của Mexico.

Kiến nghị và giải pháp chính sách

  • Xây dựng liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và khối FDI: Thiết lập cơ chế hợp tác bắt buộc và khuyến khích giữa các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) đang hoạt động tại Việt Nam với các nhà cung ứng nội địa nhằm "làm dày" (densify) sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào GVC và tiếp thu công nghệ tiên tiến.
  • Nâng cấp chuỗi giá trị (Moving up the value chain): Chuyển dịch dần từ các hoạt động thuần túy gia công cắt - may - hoàn thiện (CMT) hoặc lắp ráp cơ bản sang các công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn ở hai đầu đường cong nụ cười như nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế sản phẩm, xây dựng thương hiệu và mạng lưới logistics.
  • Phát triển năng lực công nghiệp bản địa: Tránh phụ thuộc kéo dài vào việc duy trì mặt bằng lương thấp để thu hút vốn FDI gia công; tập trung nguồn lực xây dựng năng lực công nghệ nội sinh để tiến tới các sản phẩm mang thương hiệu "Sáng tạo và sản xuất tại Việt Nam" (Invented and made in Vietnam).
  • Chính sách xúc tiến thương mại có trọng tâm theo thị trường: Định hình chiến lược xuất khẩu dựa trên lợi thế cạnh tranh theo vùng/thị trường thực tế đã được bóc tách bằng chỉ số TiVA-RCA (ví dụ: tập trung xuất khẩu gỗ sang EU, NAFTA; khai khoáng sang Đông Á, EU; điện tử sang BRIS).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Ràng buộc về dữ liệu thời gian: Dữ liệu nghiên cứu chính dựa trên cơ sở dữ liệu OECD TiVA ấn bản 2016, chỉ hỗ trợ chuỗi số liệu từ năm 1995 đến 2011 (tác giả phải ước lượng bổ sung giai đoạn 2012–2014 cho mô hình ARDL). Ấn bản OECD TiVA 2018 (giai đoạn 2005–2015) chưa thể tích hợp do sự khác biệt trong việc chuyển đổi hệ thống phân loại ngành kinh tế (ISIC 3.1 sang ISIC 4).
  • Phạm vi so sánh quốc tế: Luận án chưa thực hiện phân tích so sánh song phương chuyên sâu giữa động lực xuất khẩu của Việt Nam với từng quốc gia cụ thể trong khối ASEAN hoặc các nền kinh tế tương đồng khác.
  • Bỏ qua một số khía cạnh mở rộng: Do phạm vi nghiên cứu đã tập trung sâu vào 4 trụ cột chính (nguồn gốc DVA/FVA, tăng trưởng GDP, năng lực cạnh tranh RCA, vị trí GVC), các khía cạnh liên quan khác như mối quan hệ giữa TiVA với biến động tỷ giá hối đoái thực tế, cơ chế tự điều chỉnh cán cân thương mại chi tiết và hạch toán trách nhiệm phát thải khí nhà kính (carbon footprint) chưa được triển khai chi tiết.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Cập nhật chuỗi dữ liệu TiVA mới hơn khi các cơ quan thống kê quốc tế đồng bộ hóa hệ thống phân loại ISIC.
  • Mở rộng phân tích so sánh đối chuẩn (benchmarking) trực tiếp với các quốc gia ASEAN-4 (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines).
  • Đi sâu lượng hóa tác động của tỷ giá hối đoái hiệu dụng thực tế tính theo tỷ trọng giá trị gia tăng (Value-Added REER) và phân bổ lượng phát thải carbon trong thương mại quốc tế của Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nhà hoạch định chính sách thương mại và công nghiệp (Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Cung cấp cơ sở định lượng để đánh giá lại danh mục các ngành xuất khẩu mũi nhọn, điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư FDI và xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ tránh bẫy gia công.
  • Các nhà nghiên cứu kinh tế quốc tế và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình phân rã giá trị gia tăng từ bảng ICIO, phương pháp kết hợp ARDL có gãy cấu trúc và phương pháp hồi quy Galtonian đánh giá sự chuyển dịch lợi thế so sánh hiển hiện.
  • Giảng viên các trường đại học khối kinh tế: Là tài liệu giảng dạy chuyên sâu cho các học phần Kinh tế Quốc tế, Thương mại Quốc tế Nâng cao, và Phân tích Chuỗi Giá trị Toàn cầu.

Câu hỏi thường gặp

1. Hiện tượng thổi phồng số liệu xuất khẩu gộp của Việt Nam được luận án chỉ ra cụ thể như thế nào?

Số liệu xuất khẩu gộp truyền thống ghi nhận toàn bộ giá trị hàng hóa khi qua cửa khẩu, bao gồm cả giá trị của linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu. Điển hình vào năm 2014, xuất khẩu gộp của Việt Nam đạt 147 tỷ USD (tương đương 79,3% GDP), nhưng xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa (DVA) thực tế chỉ đạt 94 tỷ USD (chiếm 50,3% GDP). Như vậy, số liệu thống kê truyền thống đã thổi phồng quy mô xuất khẩu thực chất của Việt Nam lên tới 29 điểm phần trăm tính theo tỷ lệ GDP.

2. Mối quan hệ dài hạn giữa xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa (DVA) và tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam có hệ số co giãn là bao nhiêu?

Thông qua việc áp dụng kiểm định biên ARDL (Bounds Test) trên mô hình ARDL (1, 4) cho chuỗi dữ liệu 1995–2014, luận án chứng minh tồn tại quan hệ đồng tích hợp dài hạn giữa DVA và GDP thực tế, với hệ số co giãn dài hạn là 0,73. Điều này có nghĩa là khi xuất khẩu giá trị gia tăng nội địa của Việt Nam tăng 1% thì GDP thực tế của nền kinh tế sẽ tăng 0,73% trong dài hạn.

3. Những ngành công nghiệp nào của Việt Nam duy trì được lợi thế cạnh tranh toàn cầu (Globally competitive) theo phương pháp TiVA?

Khi bóc tách và tính toán lại chỉ số RCA dựa trên dữ liệu DVA giai đoạn 1995–2011, chỉ có 3 ngành sản xuất duy trì được lợi thế so sánh hiển hiện một cách ổn định và nhất quán trên toàn bộ 6 thị trường nghiên cứu (Thế giới, Đông Á, ASEAN, EU, NAFTA, BRIS), bao gồm:

  1. Nông nghiệp, săn bắn, lâm nghiệp và thủy sản (ISIC 01T05);
  2. Thực phẩm, đồ uống và thuốc lá (ISIC 15T16);
  3. Dệt may, sản phẩm dệt, da và da giày (ISIC 17T19).

4. Luận án xếp mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu của Việt Nam tương đồng nhất với mô hình của quốc gia nào và vị trí trong GVC ra sao?

Trong số 4 mô hình tăng trưởng xuất khẩu được đưa ra so sánh (Đức - Nhật Bản, Những con hổ Châu Á, Mexico, Trung Quốc), luận án chỉ ra cấu trúc xuất khẩu của Việt Nam tương đồng chặt chẽ nhất với Mô hình Mexico. Cụ thể, Việt Nam chủ yếu đóng vai trò là nền tảng sản xuất/gia công xuất khẩu cho các tập đoàn đa quốc gia nước ngoài dựa vào chi phí lao động thấp, tham gia sâu vào chuỗi giá trị qua liên kết ngược (nhập khẩu đầu vào để lắp ráp) và đứng ở vị trí hạ nguồn (downstream/assembly powerhouse), trong khi năng lực công nghiệp nội sinh chưa bắt kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu gộp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Shashi Kant Prasad Chaudhary đã hệ thống hóa và ứng dụng phương pháp Giá trị gia tăng Thương mại (TiVA) để phân tích toàn diện động lực xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1995–2011 (mở rộng đến 2014). Kết quả nghiên cứu khẳng định xuất khẩu DVA đóng góp dài hạn quan trọng vào tăng trưởng GDP (hệ số co giãn 0,73), đồng thời chỉ ra 10 ngành kinh tế chủ lực tạo DVA và xác định 3 ngành có năng lực cạnh tranh toàn cầu thực chất (nông nghiệp, thực phẩm đồ uống, dệt may da giày). Luận án đã lượng hóa sự thổi phồng của số liệu xuất khẩu gộp truyền thống, định vị Việt Nam ở vị trí trung tâm lắp ráp hạ nguồn mang đặc trưng của mô hình Mexico, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho các khuyến nghị chính sách về nâng cấp chuỗi giá trị và phát triển nền công nghiệp tự chủ công nghệ.