Chương 1 VAI TRÒ CỦA CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT TRONG QUAN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1.1 DIA VỊ PHÁP LÝ CUA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TAI VIỆT NAM.1 Khái niệm "người nước ngoài" Về khái niệm "người nước ngoài" trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Chính vì vậy, việc tổng kết lý luận, nghiên cứu pháp luật thực định, tham khảo kinh nghiệm của các nước để trên cơ sở đó đưa ra khái niệm “người nước ngoài" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Tuy việc hình thành khái niệm này cần phải dựa vào các tiêu chí khác nhau, nhưng tựu trung lại có thể thấy: Quốc tịch là ché-dinh pháp lý qua đó xác định quyền và nghĩa vụ của công dân; và do đó quốc tịch là cơ sở pháp lý để xác định một người nào đó là công dân nước này hay công dân nước khác. Thông thường người nước nào thì mang quốc tịch nước đó.
Nhưng trên thực tế, nhiều người sinh ra ở nước này lại gia nhập quốc tịch nước khác, hoặc do những nguyên nhân khác nhau Có người mang nhiều quốc tịch. Thuật ngữ "người nước ngoài" được sử dụng rộng rãi ở các nước trên € giới. Tuy nhiên, nội hàm khái niệm này ở mỗi nơi được hiểu một cách.‹hưng nhìn chung khái niệm “người nước ngoài” trong các van bản pháp luật à khoa học pháp lý của các nước thường được hiéu theo hai nghĩa. "Người ước ngoài” theo nghĩa rộng là tất ca những người không có quốc tịch của ước sơ tại, tức là bao gồm cả người có quốc tịch nước ngoài và người không 6 quốc tịch.
Canada, Ailen, Ba Lan, Bungari. là những quốc gia thừa nhận juan điểm này. "Người nước ngoài" hiểu theo nghĩa hẹp là những người có quốc tịch nước ngoài và không phải là công dân nước sở tại. Nhu vậy, theo :ách nhìn nhận này, thì người không có quốc tịch không phải là người nước 1gOàI.
Trong Hiến pháp, các luật, Pháp lệnh, Nghị định của Nhà nước ta từ trước đến nay đã sử dụng thuật ngữ "người nước ngoài”, nhưng chưa giải thích thuật ngữ này một cách thoả đáng. Vì vậy trong thực tiễn đã nẩy sinh những khó khăn nhất định. Ngay cả trong sách báo pháp lý của nước ta, đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về nội dung khái niệm "người nước ngoài". Ở mỗi giai đoạn, cách hiểu khái niệm này cũng có nhiều điểm khác nhau.
Sắc lệnh 53 ngày 20/10/1945 do Hồ Chủ tịch ký, ban hành quy định những người sau đây là công dân Việt Nam. - Cha là người Việt Nam, mẹ là người Việt Nam. - Cha là người Việt Nam, mẹ không phải là người Việt Nam. - Cha không rõ là ai, mẹ là người Việt Nam.
- Cha, mẹ không rõ là ai, sinh ra ở Việt Nam. Căn cứ Sac lệnh này thì những người không thuộc bốn loại kể trên déu — à người nước ngoài. Theo giáo trình Tu pháp quốc tế của Đại học Ngoại giao Hà Nội (1978 - 1979) thì "người nước ngoài" bao gồm công dân nước ngoài, người không có quốc tịch và pháp nhân nước ngoài. Hoặc cũng trong cuốn sách này, có ý kiến còn cho rằng khái niệm "người nước ngoài” còn bac gỗ cả nhà nước nước ngoài (18).
Cách hiểu ở khái niệm nêu trên theo chúng tôi là quá rộng và không chuẩn xác, bởi lẽ ngoài thành tố "nước ngoài” trong khái niệm :"ngudi nước ngoài” còn có thành tố "con người" - một thực thể xã hội, hoàn toàn khác với pháp nhân hay Nhà nước. Liên quan về vấn để này, giáo trình Tư pháp quốc tế của Đại học quốc gia Hà Nội (1995) bổ sung thuật ngữ "tự nhiên nhân" để giải thích cho khái niệm "người nước ngoài". Theo đó, "người nước ngoài" là những tự nhiên nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tự nhiên nhân không có quốc tịch, chứ không phải là các tổ chức của tự nhiên nhân nước ngoài như pháp nhân và Nhà nước(19). Theo chúng tôi, quan điểm lý giải này là phù hợp và có cơ sở khoa học.
Ngày 25/4/1977 Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số: 122/CP về chính sách đối với người nước ngoài cư trú, làm việc và làm ăn sinh sống tại Việt Nam. Theo điều 1 của Quyết định này, khái niệm "người nước ngoài" bao gồm những người có quốc tịch nước ngoài và những người không có quốc tịch. Ngày 9/7/1988 Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam công bố Luật quốc tịch Việt Nam. Có thể nói đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất đề xác định một người nào đó là công dân Việt Nam.
Luật quốc tịch Việt Nam chỉ công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch Việt Nam (Điều 3). Nhưng theo Điều 49 Hiến pháp›1992 quy định "Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Theo quy định này thì ngay cả những người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã nhập quốc tịch nước ngoài (nước mà họ định cư), và vẫn còn quốc tịch Việt Nam thì về hình thức vẫn là công dân Việt Nam cho đến khi nào họ thôi quốc tịch Việt Nam một cách hợp pháp. Đây là vấn để rất phức tạp, và thực tế cho thấy nếu không được giải quyết triệt để trong pháp luật thực định sẽ gây nhiều khó khăn, vướng mắc cho thực tiền.
+ Như vậy, những người không có quốc tịch Việt Nam được coi là người nước ngoài. Trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước ta được ban hành những năm gần đây, khái niệm "người nước ngoài” thường được dùng rộng rãi theo nghĩa rộng. Theo Khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 21/12/1992 và Khoản 3, Điều 1 của Pháp lệnh hôn nhân va gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày 15/12/1993, "người nước ngoài” được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam. Có thể nói cho đến nay, cách hiểu người nước ngoài theo nghĩa rộng như trong pháp luật nước ta là chuẩn xác hơn cả, bởi vì: Thứ nhất, điều đó đảm bảo cho sự công bằng đối với công dân nước ngoài và người không có quốc tịch - hai phạm trù khác nhau.
Thứ hai điều này cũng phù hợp với nguyên tắc bình đẳng của mọi người theo luật quốc tế là "không nên phân biệt đối xử vì lý do dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ, chính kiến, trình độ văn hoá” (19); đồng thời nó phù hợp với xu hướng nhân đạo của đời sống quốc tế. Như vậy, xu hướng chung pháp luật Việt Nam thừa nhận quan điểm cho rằng "người nước ngoài" không chỉ gồm những người có quốc tịch nước ngoài mà còn cả người không có quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Nhưng để xác định một người là người nước ngoài, trước hết cần phải khẳng định họ là người không có quốc tịch Việt Nam, điều đó có nghĩa là họ là công dân (hoặc mang hộ chiếu) nước ngoài hoặc là người đồng thời không có quốc tịch Việt Nam và không có quốc tịch của bất kỳ một nước nào cả (người không quốc tịch). Tóm lại, cần phải hiểu người nước ngoài là: — a" - Người không phải là công dan Việt Nam theo Luật quốc tịch Việt Nam mà là công dân của một nước khác được chứng minh bằng hộ chiếu còn giá trl mà họ đang sử dụng.
- Là người không phải là công dân Việt Nam theo Luật quốc tịch Việt Nam mà cũng không phải là công dân của một nước khác, được chứng minh bằng việc họ không có hộ chiếu hoặc có nhưng đã hết hạn sử dụng mà không được một nước nào cấp lại.2 Phân loại người nước ngoài Việc phân loại người nước ngoài có ý nghĩa thực tiễn to lớn, vì qua đó mà xác định quy chế pháp lý đối với từng loại. Tuy nhiên, do khái niệm người nước ngoài rộng như đã trình bày, nên việc phần loại dé quản lý cũng có nhiều khó khăn và cho đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất. Có nhiều quan điểm phân loại người nước ngoài khác nhau, tuỳ thuộc vào việc lựa chọn căn cứ dé phân loại, hoặc tuỳ thuộc vào góc độ nghiệp vụ chuyên môn của mỗi ngành. Khoản 2, Điều 1 của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 chia người nước ngoài thành hai loại: "người nước ngoài thường trú” - là người nước ngoài cư trú không thời hạn tại Việt Nam và “người nước ngoài tạm trú” là người nước ngoài cư trú có thời hạn tại Việt Nam.
Cách phân loại này chủ yếu nhằm đáp ứng công tác quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh cũng như quản lý việc cư trú, đi lại, quan hệ và hoạt động của người nước ngoài ở Việt Nam, phục vụ nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Giáo trình tư pháp quốc tế của Đại học quốc gia Hà Nội (1995) dựa vào một số căn cứ chủ yếu khác để phân loại người nước ngoài. Cụ thể là: - Căn cứ vào quan hệ quốc tịch, người nước ngoài được chia thành nguời có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch. 16 - Can cứ vào nơi cư trú, có người nước ngoài cư trú trên lãnh thé Việt Nam.
- Căn cứ vào thời gian cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và mức độ ồn định của mối quan hệ pháp lý với Nhà nước Việt Nam, người nước ngoài được chia thành loại thường trú và loại tạm trú. - Căn cứ vào nội dung quy chế pháp lý, người nước ngoài được chia thành loại được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt (chế độ ưu đãi và miễn trừ ngoại giao) và loại không được hương quy chế này (19). Sự phân loại người nước ngoài như trên là căn.cứ vào những đặc điềm khác nhau về quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có ở nước sở tại trên cơ sở luật quốc tế và luật pháp của Việt Nam. Cách phân loại này là phù hợp với luật quốc tế và đáp ứng được yêu cầu quan lý Nhà nước đối với người nước ngoài trong giai đoạn hiện nay.
Trong tình hình hiện nay, việc phân loại người nước ngoài như vậy là phù hợp với thực tế.3 Địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam Người nước ngoài do cùng một lúc vừa phải chịu sự chi phối của pháp luật của Nhà nước mà họ là công dân, vừa phải chịu trách nhiệm và nghĩa vụ cũng như quyển theo pháp luật của nước sở tại, nên họ đồng thời phải tuân thủ cả hai hệ thống pháp luật.