MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là nội dung cơ bản trong công cuộc cải cách kinh tế ở nước ta. Một trong những giải pháp chủ yếu của đổi mới DNNN là cổ phần hóa (CPH). Từ năm 1992, với cách làm thí điểm dần dần từng bước và rút kinh nghiệm rồi triển khai trên diện rộng, đến nay chúng ta đã đạt được những thành công nhất định kể cả về số lượng và quy mô doanh nghiệp.
Từ chỗ chỉ CPH các doanh nghiệp có vốn điều lệ 5, 10 tỷ đồng đến nay đã có những doanh nghiệp CPH với vốn điều lệ lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Về cơ bản có thể phân chia quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam thành các giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1992-1995 : Thực hiện thí điểm theo Quyết định số 20/HĐBT (1992) của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). - Giai đoạn 1996-1998 : Triển khai thực hiện cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị định 28/CP (1996) của Chính phủ. - Giai đoạn từ năm 1999 đến nay : Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP.
Những năm gần đây, với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ CPH, có lúc chúng ta đã xem nhẹ vấn đề doanh nghiệp sau CPH trong khi đây là một phần quan trọng không thể tách rời của quá trình CPH. Tất nhiên, không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà CPH đem lại như tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp sau CPH, giải quyết lao động, phúc lợi xã hội .nhưng cùng với những tăng trưởng mạnh mẽ đó thì những mặt trái của CPH, những bất cập trong quản lý cũng ngày càng lớn mạnh và kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Nhận xét về vấn đề này, ông Hoàng Nguyên Học, trong phát biểu tại Hội thảo "Tái cấu trúc DN sau CPH và vai trò của các tổ chức tài chính", đã 2 chỉ rõ: "Trong số gần 850 doanh nghiệp mà SCIC tiếp nhận, thì hầu hết đều quản trị kém, chỉ có 20-30 doanh nghiệp có trình độ quản trị tốt theo mô hình tiên tiến. Đại bộ phận doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều giữ nguyên bộ máy lãnh đạo, cũng như phương thức quản trị, điều hành doanh nghiệp như trước thời điểm cổ phần hóa.
Thực tế này khiến mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa đang gặp nhiều trở ngại." Trong một thời gian dài, vẫn tồn tại quan niệm rằng DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước (ở đây là cơ quan chủ quản) cấp vốn, quản lý và bù lỗ (nếu có), còn DNNN sau khi CPH thì hoạt động theo luật doanh nghiệp và có thể nói nhà nước “hết trách nhiệm”. Quan niệm này không sai nhưng nó chỉ đúng với những doanh nghiệp mà nhà nước không còn nắm cổ phần chi phối. Với những doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần chi phối thì sao? Trong trường hợp này, người đại diện phần vốn nhà nước quyết định hoạt động của doanh nghiệp và do đó rất nhiều DNNN sau khi CPH thì “bình mới rượu cũ”, mọi việc vẫn không thay đổi trừ tên của doanh nghiệp và một số thủ tục bắt buộc như đại hội cổ đông, bầu HĐQT, Ban kiểm soát … CPH DNNN không phải chỉ đơn thuần đưa ra đấu giá (IPO) các DNNN là xong, CPH cần phải giải quyết được nhiệm vụ trọng tâm là “Đổi mới DNNN”. CPH cần phải đem lại cho doanh nghiệp một sự đổi mới cơ bản tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững chứ không thể nhìn nhận chất lượng CPH qua những con số tăng trưởng ngắn hạn.
Để đạt được điều đó cần có sự quan tâm hơn nữa đối với các doanh nghiệp sau CPH. Sự quan tâm ở đây không chỉ đơn thuần là những hỗ trợ trực tiếp (thuế) mà còn là quá trình theo dõi sự chuyển dịch mô hình quản lý của doanh nghiệp từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái cấu trúc. Thực tiễn cho thấy, ở các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, những mâu thuẫn, bất cập giữa hai mô hình quản lý ngày càng gay gắt làm kìm hãm sự phát triển của doanh 3 nghiệp, thậm chí trong một số trường hợp thì mâu thuẫn này gây nên sự sa sút không đáng có. Dầu khí là một ngành đặc thù, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Chính vì lẽ đó mà việc CPH ở Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt nam (PVN) diễn ra chậm hơn (bắt đầu CPH doanh nghiệp đầu tiên vào năm 2003) và cũng chính vì đặc thù ngành nên ở hầu hết các doanh nghiệp thì PVN vẫn giữ cổ phần chi phối (>51%). Do có những đặc thù riêng có của ngành dầu khí như quy mô, công nghệ, vị thế. nên vấn đề DN sau CPH ở PVN cũng mang những nét đặc thù riêng. Và điều đó đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu riêng cho trường hợp PVN để đảm bảo mục tiêu vừa đổi mới doanh nghiệp theo hướng thị trường vừa tăng cường năng lực, vai trò chủ đạo trong nền tế.
Ở PVN, do mới triển khai CPH từ năm 2003 đến nay nên vấn đề “Đổi mới hoạt động quản lý của tập đoàn dầu khí quốc gia Việt nam đối với các doanh nghiệp sau cổ phần hóa” chưa được đề cập một cách hệ thống trong công trình khoa học nào. Để CPH thực sự đem lại “đổi mới” cho DNNN cần có những nghiên cứu tìm kiếm phương thức quản lý đối với DNNN sau cổ phần hóa đặc biệt là những doanh nghiệp mà nhà nước nắm cổ phần chi phối. Mục tiêu của đề tài Mục đích nghiên cứu của luận văn là: - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và quản lý đối với các DN sau CPH. - Phân tích thực trạng hoạt động quản lý của PVN đối với các DNNN sau cổ phần hóa - Đề xuất một số giải pháp đổi mới hoạt động quản lý nhằm thúc đẩy sự phát triển các DN sau CPH ở PVN trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là hoạt động quản lý của PVN đối với các DNNN sau CPH, PVN nắm giữ trên 51% vốn điều lệ. Phạm vi nghiên cứu: - Đề tài giới hạn nghiên cứu mối quan hệ quản lý của PVN đối với các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt nam đã cổ phần hóa và đang niêm yết trên các sàn giao dịch. - Thời gian khảo sát từ khi bắt đầu có CPH ở PVN đến hết năm 2008. Tuy nhiên, để có cơ sở đối chiếu, so sánh, trong từng vấn đề cụ thể các phân tích và dữ liệu có thể lấy ở thời gian trước CPH.
Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp quy nạp, phân tích, logic, so sánh, tổng hợp, thống kê đánh giá các vấn đề đặt ra trong luận văn. Thông tin được thu thập từ các nguồn như: Tài liệu của công ty (báo cáo tài chính, bản công bố thông tin, bản cáo bạch, kế hoạch năm, báo cáo tổng kết năm), các bài viết trên báo, internet. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đổi mới DNNN và vấn đề CPH đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay với nhiều quy mô và góc độ khác nhau. Tuy nhiên vấn đề quản lý DN sau cổ phần hóa ít được nghiên cứu và nếu có thì thường được nghiên cứu như là một phần của cổ phần hóa.
Các công trình nghiên cứu trong nước cũng đã đề cập khá toàn diện các khía cạnh khác nhau về tập đoàn kinh tế. Trong đó đáng chú ý là các công trình sau: Cuốn “Các công ty xuyên quốc gia hiện đại” của PTS. Nguyễn Khắc Thân do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1995 đã dựa trên 5 nguồn tư liệu phong phú để đưa ra sự phân tích khá đầy đủ về công ty xuyên quốc gia: từ nguyên nhân ra đời, quan niệm, loại hình, đặc trưng cũng như vai trò và tác động của nó đối với nền kinh tế thế giới. Cuốn “Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” của PGS, PTS.
Nguyễn Đình Phan do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1996 - đúng vào thời điểm chúng ta bắt đầu thực hiện chủ trương của Đảng thành lập các tổng công ty 91, mô hình thí điểm tập đoàn kinh tế. Nhận thức về tập đoàn kinh tế lúc này còn khá mới mẻ đối với các cán bộ quản lý và một số nhà nghiên cứu kinh tế. Vì vậy, những cơ sở lý luận cơ bản về tập đoàn kinh tế và những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu những mô hình tập đoàn kinh tế ở một số nước thuộc các khu vực trên thế giới mà cuốn sách nêu lên rất có ý nghĩa về mặt nhận thức để thành lập các Tổng công ty 91 theo mô hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Cuốn sách đã nêu một số điều kiện cơ bản để thành lập tổng công ty theo mô hình tập đoàn, tuy chưa thật sự đầy đủ nhưng đây là một trong những cuốn sách đầu tiên đề cập tới điều kiện hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
Cuốn “Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS, TSKH. Vũ Huy Từ (chủ biên) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2002 đã cung cấp nhiều ý tưởng nghiên cứu cũng như cách tiếp cận và giải quyết vấn đề tập đoàn mà thực tiễn đang đặt ra. Bằng việc đi sâu phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế, bối cảnh kinh tế xã hội trong và ngoài nước tác động đến sự hình thành và tổ chức quản lý tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, cuốn sách cũng đã đề ra các giải pháp quản lý nhà nước đối với mô hình này. Cuốn “Tập đoàn kinh tế, lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng vào Việt Nam” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương do TS.
Trần Tiến 6 Cường chủ biên và được Nhà xuất bản Giao thông vận tải xuất bản năm 2005 nêu lên những lý luận về tập đoàn kinh tế như khái niệm, đặc điểm, vai trò, địa vị pháp lý, phân tích, đánh giá cơ hội, thách thức đối với các tổng công ty nhà nước khi phát triển theo hướng tập đoàn kinh tế. Trên cơ sở đó, cuốn sách đề xuất các giải pháp chính sách cho quá trình hình thành tập đoàn kinh tế trên cơ sở các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam.